Môn Văn Lớp: 9 Phân tích bài thơ viếng lăng bác của viễn phương

Question

Môn Văn Lớp: 9 Giúp em bài này với ạ: Phân tích bài thơ viếng lăng bác của viễn phương No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Gianna 1 tuần 2021-09-15T01:40:26+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

    Miền Nam thương Bác nỗi thương cha

         Nỗi mong chờ và ước ao của đồng bào Miền Nam được Bác vào thăm không còn nữa. Người đã ra đi mãi để lại bao niềm nuối tiếc trong lòng mỗi người dân Nam bộ nói riêng và nhân dân cả nước nói chung. Viễn Phương đã thay mặt nhân dân cả nước bày tỏ tình cảm của mình qua bài thơ Viếng lăng Bác. Đúng như nhà thơ đã chia sẻ cùng bạn đọc, bài thơ thật giản dị: “Bởi tôi nghĩ, Bác của chúng ta vốn rất giản dị”.

    Là cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng Văn nghệ giải phóng Miền nam thời kì chống Mĩ, thơ Viễn Phương nhỏ nhẹ giàu tình cảm và rất thơ mộng. Bài thơ Viếng lăng Bác được sáng tác năm 1976 khi đất nước vừa thống nhất, lăng Chủ tịch vừa được khánh thành. Bài thơ được in trong tập “Như mây mùa xuân”. Nói về bài thơ này, nhà thơ Viễn Phương viết: “Khi Bác còn sống, nhân dân miền Nam mong muốn đất nước giải phóng để đón Bác vào thăm. Nhưng rồi, ước mơ ấy không được toại nguyện. Khi miền Nam giải phóng, mọi người đều muốn ra thăm miền Bắc, viếng lăng Bác. Năm 1976, tôi ra Hà Nội, được đến viếng Bác. Sáng hôm ấy mưa phùn, Hà Nội lây phây trong gió rét, tôi nối vào dòng người vào lăng Bác… Tôi không cầm nổi nước mắt. Ra khỏi lăng, tôi đi như người mộng du, và tứ thơ tự nhiên bật ra:

    Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát”

     Câu thơ đầu tiên giới thiệu với chúng ta về việc nhà thơ ra viếng lăng Bác. Câu thơ mang tính tự sự, giản dị như câu nói bình thường. Lời thơ giản dị, bởi Bác Hồ của chúng ta vốn giản dị. Người ghét sự cầu kì, làm dáng. Giản dị, trong sáng, sâu sắc cũng là điều bao trùm thơ Bác. Trong niềm xúc động được ra thăm lăng Bác, nhà thơ Vễn Phương đã xưng hô với Bác là con. lời xưng hô thân mật, gần gũi, cảm động. Tác giả coi mình là con xa cách lâu ngày mới được gặp lại người cha già của dân tộc. Nếu như nhan đề của bài thơ là Viếng lăng Bác thì câu thơ mở đầu lại là thăm lăng Bác. Viếng tức là chia buồn với thân nhân người đã mất, còn Thăm là gặp gỡ trò chuyện với người đang sống. Nhan đề bài thơ thể hiện sự trang trọng và khẳng định sự thật Bác đã ra đi. Còn câu thơ đầu dùng từ thăm ngụ ý nói giảm đi, Bác như còn sống mãi với nhân dân Việt Nam. 

         Trong dòng người viếng lăng Bác, hình ảnh đầu tiên mà nhà thơ quan sát và cảm nhận được là hình ảnh hàng tre bát ngát trong sương sớm. Hình ảnh này giúp người đọc liên tưởng tới hàng tre xanh xanh, đến sức sống bền bỉ của dân tộc Việt Nam. Vì, đã từ lâu hình ảnh hàng tre là biểu tượng cho làng quê, cho con người dân tộc Việt Nam kiên cường, bền bỉ. Trong khung cảnh này, nhà thơ đã vô cùng xúc động trước cảnh hàng tre đứng thẳng hàng trong sương sớm, pha lẫn tâm trạng náo nức xếp hàng chờ mong vào thăm làng Bác.

      Viễn Phương mang một trái tim yêu thương và ngưỡng mộ với chủ tịch Hồ Chí Minh. Ông đã mượn hình ảnh mặt trời, biểu tượng cho hình ảnh Bác Hồ luôn sống mãi, trường tồn với đất nước:

    “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ.

    Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân.”

          Hai câu thơ sóng nhau, hô ứng nhau với hai hình ảnh mặt trời. Một mặt trời thiên nhiên, rực rỡ, vĩnh hằng “Ngày ngày… đi qua trên lăng”, và “Một mặt trời trong lăng rất đỏ”- hình ảnh Bác Hồ vĩ đại. Màu sắc “rất đỏ”  làm cho câu thơ có hình ảnh đẹp gây ấn tượng sâu xa hơn, nói lên tư tưởng cách mạng và lòng yêu nước nồng nàn của Bác. Ở câu thơ thứ hai mặt trời là hình ảnh ẩn dụ, sự vĩ đại của Bác như mặt trời chiếu sáng cho con đường giải phóng dân tộc, đem lại sức sống mới cho dân tộc Việt Nam. Thể hiện lòng tôn kính của nhân dân đối với Bác. Bên cạnh đó, hình ảnh “kết tràng hoa dâng bảy chín mùa xuân” cũng là một hình ảnh ẩn dụ, gây ấn tượng mạnh. Tràng hoa chính là tấm lòng thành kính của nhân dân dành cho Bác.

         Bốn câu thơ xen lẫn tả thực và ẩn dụ, nhịp điệu chậm rãi như mô phỏng nhịp điệu trang nghiêm tiến dần từng bước của đoàn người đi vào lăng viếng Bác. Nhịp điệu thơ đã thể hiện rõ những xúc động và suy tưởng sâu lắng của nhà thơ.

    “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

         Theo sự vận động của mạch thơ, người đọc dường như cũng đang được theo dòng người vào thăm lăng Bác. Nếu như ở ngoài lăng là hình ảnh hàng tre xanh đang ngày ngày canh giấc ngủ cho người, thì ở bên trong lăng, Bác đang nằm đấy với “giấc ngủ bình yên”. Cảnh trong lăng được miêu tả thật đẹp, với ánh sáng dịu nhẹ, trong trẻo của không gian được tác giả miêu tả chính xác, tinh tế, thể hiện một khung cảnh trang nghiêm, yên tĩnh nơi Bác nằm  nghỉ. Và khi vào trong lăng nhìn thấy Bác nhà thơ liên tưởng đến vầng trăng. Hình ảnh vầng trăng gợi cho ta nghĩ đến tâm hồn cao đẹp, sáng trong của Bác. Hai câu thơ vừa miêu tả cảnh thực, vừa gửi gắm lòng kính yêu vô hạn của tác giả đối với Bác.

         Trước cảnh tượng đó tâm trạng , cảm xúc của nhà thơ được diễn tả cụ thể qua hai câu thơ tiếp theo:

    “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
    Mà sao nghe nhói ở trong tim.”

          Nhìn Bác ngủ ở đấy thật bình yên, nhưng có một sự thật dù đau lòng cách mấy ta vẫn phải chấp nhận: Bác đã thật sự ra đi mãi mãi. Tuy lí trí đã nhận thức Bác vẫn còn sống mãi với non sông đất nước nhưng tình cảm thì không thể không đau xót vì sự ra đi của Người. Một từ “nhói” của nhà thơ nói hộ ta nỗi đau đớn, nỗi đau vượt lên mọi lí lẽ, mọi lập luận lí trí. Nhà thơ đau xót trước sự thực Bác đã đi xa.

          Khổ thơ cuối nói lên tâm trạng của nhà thơ nói riêng và của những người con miền Nam nói chung khi ra khỏi lăng nghĩ đến ngày trở về miền Nam. Nhà thơ đã phải thốt lên:

    “Mai về miền Nam thương trào nước mắt
    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
    Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này…”

          Ngày mai phải rời xa Bác rồi. Một tiếng “thương của miền Nam” lại vang lên, gợi về miền đất xa xôi của Tổ quốc, một nơi từng có vị trí sâu sắc trong trái tim người. Một tiếng “thương” ấy là yêu, là biết ơn, là kính trọng cuộc đời cao thượng, vĩ đại của Người. Đó là tiếng thương của nỗi đau xót khi mất Bác. Thương Bác lắm, nước mắt trào ra, thật đúng là tình thương của người Việt Nam, vô bờ bến và rất thật.

     

         Cùng với nỗi niềm yêu thương vô hạn, tác giả nói lên muôn vàn lời tự nguyện. Điệp ngữ “muốn làm” khẳng định mạnh mẽ những ước nguyện ấy. Ước chi ta có thể biến hình thành những gì thân yêu quanh nơi Bác ngủ để mãi mãi được chiêm ngưỡng Bác, cuộc đời và tâm hồn của Bác, để bày tỏ lòng ta với Bác. Một con chim nhỏ góp tiếng hót làm vui những bình minh của Bác, một đóa hoa góp mùi hương làm thơm không gian quanh Bác hay một cây tre trong hàng tre xanh xanh VN tỏa bóng mát dịu dàng quê hương của Bác, tất cả đều làm Bác vui và ngủ an giấc hơn. Đây cũng chính là nguyện ước chân thành, sâu sắc của hàng triệu con tim người Việt sau một lần ra thăm lăng Bác. Bác ơi! Bác hãy ngủ lại bình yên nhé, chúng cháu về miền Nam tiếp tục xây dựng Tổ quốc từ nền móng Bác đã tạo ra đây! Câu thơ trầm xuống để kết thùc, ngừng lặng hòan toàn.

          Viếng lăng Bác có giọng điệu trang nghiêm, sâu lắng, vừa tha thiết, đau xót, tự hào, phù hợp với nội dung cảm xúc của bài thơ. Bài thơ có sự sáng tạo trong việc xây dựng hình ảnh thơ, kết hợp cả hình ảnh thực hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng có ý nghĩa khái quát và giá trị biểu cảm cao. Bên cạnh đó, nhà thơ đã lựa chọn ngôn ngữ biểu cảm, sử dụng các ẩn dụ, điệp từ có hiệu quả nghệ thuật. Bài thơ đã thể hiện một cách sinh động, tinh tế tâm trạng vô cùng xúc động của một người con từ chiến trường miền Nam được ra viếng Bác. Đặc biệt, thể hiện được tấm lòng thành kính thiêng liêng trước công lao vĩ đại và tâm hồn cao đẹp, sáng trong của Người, nỗi đau xót tột cùng của nhân dân ta nói chung, của tác giả nói riêng khi Bác không còn nữa.

          Bài thơ khép lại, nhưng tình cảm của Viễn Phương, của những người con miền Nam với Bác vẫn luôn lung linh qua từng câu chữ.

    ĐÂY BÀI NỮA NHA

    Bài thơ “Viếng lăng Bác” của Viễn Phương là một tác phẩm như thế. Được sáng tác vào năm 1976, bài thơ mang đậm chất trữ tình này đã ghi lại tình cảm sâu lăng, thành kính cảu nhà thơ khi hoà vào dòng người viếng lăng Bác. Bài thơ cũng là tiếng nói, là nỗi niềm tâm sự của nhận dân Nam bộ và nhân dân cả nước dành cho Bác.

    Mở đầu bài thơ là cảm xúc của tác giả khi vừa bước chân vào lăng. Nhà thơ xưng “con” và gọi “Bác”; lời thơ giản dị, mộc mạc mà chát chức bao tình cảm gần gũi, thân thương, kính trọng chủ tịch Hồ Chí Minh của ông. Điều đó càng cho thấy Bác là một con nguời rất hoà đồng và gần gũi. Chính vậy nhà thơ Tố hữ có viết “Người là Cha, là Bác, là Anh”. Chi tiết thơ “Con ở miền Nam” còn mang một sắc thái đầy xúc độgn. Khúc ruột miền Nam là miền đất xa xôi mà Bác không nguôi ngóng chờ, cho đến những ngày trước luc lâm chung thì trái tim ngươờ vẫn luôn huớng về mìen Nam ruột thịt. Nơi đó có biết bao đồng bào ta đang ngày đêm chiến đấu và anh dũng hy sinh vì một nàgy mai nước nhà thống nhất. Nhưng…Bác đã không chờ được đến ngày đó. Người đã ra đi mãi mãi vào cõi vĩnh hằng để lại muôn vàn niềm thương tiếc cho nhân dân ta. Câu thơ đầu gọn như một lời thông báo nhưng lại chứa chan bao tình cảm xúc độgn, bồi hồi của tác giả đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.

    Và trong cái mênh mang sương mù của mọt ngày mùa thu Hà Nội, qua con mắt thi nhân của Viễn Phương, ta chợt tìm thấy một “hàng tre” Việt Nam. Đến với Bác, đến với hàng tre, ta như đến với quê hương làng mạc, đến với mái nhà tranh âm vang lời ru của bà, của mẹ; đén với Bác là đến với dân tộc mình, thế mới đẹp làm sao! Hình ảnh nhân hoá hàng tre “bão táp mưa sa đứng thẳng hàng” còn là biểu tượng bất diệt của con người VN kiên cường, bất khuất biền bỉ. Màu xanh của tre chính là màu xanh của sức sốg VN, màu xanh của hy vnọg, hạnh phúc và hoà bình. Đây quả là một tứ thơ độc đáo, giàu ý nghĩa tượng trưng:

    “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

    Ôi hàng tre xanh xanh Việt Nam

    Bão táp mưa sa đứng thẳng hàg”

    Và nhà thơ phải kính yêu Bác lắm mới viết được những hình ảnh ẩn dụ tài tình này:

    “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

    Cũng là “mặt trời” nhưng “mặt trời” ở câu thơ thứ nhất là mặt trời của thiên nhiên vũ trụ, ngày ngày tỏ sáng, đem sự sống cho muôn loài, vạn vật, nó cũng có lúc quạnh quẽo, u ám. Còn “mặt trời” của nhận dân VN. “mặt trời” trong lăng thì vẫn luôn chiếu ánh sáng vĩnh hằng, đỏ mãi. Bác chính là vầng mặt trời hồng toả tia sáng soi rọi con đừơng giúp dân tộc ta thoát khỏi kiếp đời nô lệ, là sức mạnh giúp nhân dân ta chèo lái con thuyền cách mạng cập bến vinh quang, đi đến bờ thắng lợi. Dù rằng đã ra đi mãi mãi nhưng Bác vẫn luôn bất tử, tư tưởng HCM vẫn luôn trường tồn, soi đường dẫn lối cho dân tộc ta đứng lên.

    Hoà nhịp với gần trăm triệu bàn chân VN, hàng triệu bàn chân lao độgn trên thế giới, Viễn Phương bùi ngùi xúc động bước vào lăng:

    “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

    Hình ảnh dòng người vào lăng viếng Bác được tác giả ví như nhưng trànghoa dâng lên người. “Bảy mươi chín” tràng hoa, ấy là bày mươi chín màu xuân, bày mươi chín năm cống hiến, hy sinh hết mình của Bác đối với dân tộc và nhân dân ta. Và quả thật, Bác chính là mùa xuân, và mùa xuân ấy đã làm cho cuộc đời người dân VN nở hoa. Điệp ngữ “ngày ngày” đứng mỗi ý thơ giữ vị trí “nhãn tự”, vừa thể hiện một qui luật trình tự của dòng người vào lăng viếng Bác, lại vừa thể hiện một qui luật tự nhiên của tạo hoá.

    Đứng trước sự vĩ đại, to lớn của Bác, ta cũng vô thức bị dòng thơ cuốn và trong lăng lúc nào không hay:

    “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên

    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền

    Vãn biết trời xanh là mãi mãi

    Mà sao nghe nhói ở trong tim”

    Bác đang nằm đây, ngay trước mắt nhà thơ, hiền hậu, nhân từ như một vầng trăng “dịu hiền”, mát mẻ mà vãn trong sáng rạng ngời.Ta có cảm giác như Bác vẫn chưa đi xa, vẫn chưa rời khỏi thế gian này mà Người đang ngủ đấy thôi. Lí trí thì nói bác đang ngủ, nghĩa là Bác vẫn còn sống mãi với đất nước, với dân tộc ta như trời xanh còn mãi trên đầu. Mỗi ngày ngẩng đầu nhìn ta lại thấy trời xanh, lại thấy Bác. Bác không bao giờ mất, Bác sống mãi cùng dân tộc ta, trong mỗi cuộc đời, trong mỗi sự việc mà chúng ta làm vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội. Ta biết thế, ta nghĩ thế nhưng sao tim ta vẫn “đau nhói”, mắt ta vẫn trào dâng khi nhận ra rằng: Bác đã không còn nữa! Khổ thơ thứ hai và ba là một chuỗi các hình ảnh vũ trụ: mặt trời, vầng trăng, trời xanh lồng vào nhau như để ca ngời tầm vóc lớn lao của Bác; đồng thời thể hiện lòng tôn kíh vô hạn của tác giả, của nhân dân đối với vị cha già kính yêu của dân tộc.

    Bài thơ bắt đầu bằng sự kiện “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác” và cũng kết thúc bằng chi tiết “Mai về miền Nam”. Đây là giờ phút sắp chia tay với Bác, tâm trạgn nhà thơ tràn đầy niềm cảm thương xen lẫn bùi ngùi, lưu luyến. Điều đó được thể hiện qua hình ảnh cuờng điệu: “Thương trào nước mắt” :

    “Mai về miền Nam thương trào nước mắt

    Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác

    Múon làm đóa hoa toả hương đâu đây

    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

    Tình thương xót nén giữa tam hồn đã làm nảy sinh bao ước muốn: “muốn là con chin” để dâng lên tiếng hót vui, “muốn là đoá hoa” dâng hương thơm ngát, “muốn làm cây tre trung hiếu” canh gác chi giấc ngủ yên lành của Bác. Nhịp điệu khổ thơ lúc này dồn dập với điệp ngữ “muốn làm” nhắc lại đến ba lần và các hình ảnh liên tiếp xuất hiện như một dòng khát khao mãnh liệt của nhà thơ muốn được gần Bác mãi mãi.

    Bằng tất cả tình cảm chan thành, Viễn Phương đã làm “Viếng lăng Bác” trở thành một bản tình ca bất tận để lại ấn tượgn sâu sắc cho bao người dân Việt Nam. Bài thơ hay không chỉ vì các nghệ thuật, kĩ sảo độc đáo mà quan trọgn hơn, đó là sự kết hợp nhuẫn nhị giữa cái “tâm” của một nguời con yêu nước và cái “tài” của người nghệ sĩ. Rất nhiều năm tháng đã đi qua nhưng mỗi thế hệ đọclại “Viếng lăng Bác” đều đón nhận vào tâm hồn mình một ánh sáng tư tưởng, tình cảm của nhà thơ và đồng thời cũng thấm nhuần vẻ đẹp trong suốt, lấp lánh toả ra từ chính cuộc đời, trí tuệ và trái tim Bác Hồ.

    HỌC TỐT

  2. ” Bác Hồ là vị cha chung 

    Là sao Bắc Đẩu là vầng thái dương”       

               Bác Hồ vị lãnh tụ vĩ đaị của dân tộc cũng là “người cha, người bác , người anh” của bao gđ đất Việt. Khi bác mất đi mỗi người đều tiếc thương vô hạn và đau đớn khôn nguôi. Tất cả mọi người dân ai cũng muốn ra Hà Nội viếng lăng Bác. Viễn Phương- 1 người con của Nam Bộ cũng có ước muốn như vậy. Trông một lần ra thăm lăng bác, tác phẩm “viếng lăng Bác ” ra đời. Bài thơ được viết với tấm lòng thành kính biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi sót đau. Tình cảm ấy được tác giả thể hiện rõ nét trong bài thơ sau:

    “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    …….

    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”     

    Dòng cảm xúc và tâm trạng của nhà thơ được diễn tả theo trình tự của cuộc viếng lăng. Trong tư tưởng tác giả bác Hồ như đang sống như thể bác đang nhìn mọi người từ xa, nên tác giả thầm giới thiệu:

     ” Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”   

    Câu thơ chứa đựng một nỗi đau và tự hào. Tự hào ” con ở miền Nam”, miền Nam gian khổ và anh hùng, miền nam thành đồng của tổ quốc, miền nam vừa chiến thắng vẻ vang. Nhớ lúc sinh thời người cũng nghĩ đến miền Nam mog miền Nam được giải phóg. Nhà thơ Tố Hữu từg viết:

    ” Bác nhớ miền Nam nỗi nhớ nhà

    Miền Nam mog Bác nỗi mog cha ” 

     Thế mà miền Nam ko được đón Bác vào thăm ngày vui đại thắg. Nay thì Bác đã ra đi nỗi đau mất Bác lấy j mà bù đắp? Cho nên ngay từ đầu giọng thơ nghe có vẻ sót tủi. Đến với bác dù ngay giữa lòng Hà Nội mà cảnh vật vẫn giản dị, thân thuộc như một làng quê nào vậy:

    ” Đã thấy trog sươg hàg tre bát ngát

    Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam 

    Bão táp mưa sa đứg thẳg hàg ”   

    Ko phải đền đài tráng lệ, uy nghi mà chỉ là hàng tre giản dị quen thuộc “hàg tre bát ngát “. Bát ngát của sươg và bát ngát của tre là nhữg nét mờ tỏ, đậm nhạt tạo nên vẻ đẹp lug linh như 1 bức tranh thủy mạc. Từ hình ảnh thực ấy, tác giả đã liên tưởng khái quát, nâg lên thành hình ảnh ẩn dụ “hàg tre xanh xanh VN” một biểu tượng của dân tộc. Hàng tre ấy bao quanh phẩm chất con người VN: nhũn nhẵn, thanh cao, kiên cườg, bất khuất,…. dù “bão táp mưa sa cũng đứg thẳg hàg”. Dấu hiệu đầu tiên nơi bác ở là 1 dấu hiệu VN vì Bác là con người VN đẹp nhất!   

    Nhà thơ hòa vào dòg người xếp hàng, chầm chậm bức đi, chân bước mà lòng nghĩ:

    ” Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ”

    Câu thơ kéo dài một nhịp theo dòng suy tưởng của tác giả. Mặt trời trên cao kia là của tự nhiên, nó đem đến ánh sáng và nguồn sống cho vạn vật. Nhưng mặt trời ấy còn thấy và nhận ra một mặt trời trong lăng rất đỏ: hình ảnh nhân hóa ấy chứa dựng bao niềm tôn kính, ngưỡng mộ đối với Bác. “Mặt trời trong lăng rất đỏ” là hình ảnh ẩn dụ biểu hiện sự kì vĩ về phẩm chất, tài năng đạo đức, về sự hi sinh to lớn của người đối với đất nước và dân tộc. Bác mãi là vầng mặt trời đỏ thắm soi sáng cho con người Việt Nam. Cũng như mặt trời bên kia thuộc về vĩnh cửu, Bác cũng sống mãi trong lòng dân tộc, sống mãi với non sông đất nước ta.

    Không chỉ có một trái tim tác giả biết cảm nhận cái đẹp của Bác mà còn hàng triệu trái tim, hàng triệu con người ngày ngày đến lăng viếng Bác. Nhà thơ nói hộ con dân đất Việt:
    “Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

    Không khí thương nhớ bao trùm theo nhịp thơ chầm chậm, âm điệu trầm trầm như bước chân người đi trong cuộc tưởng niệm. Nhưng ko phải là cuộc tưởng niệm bình thường mà ca ngợi vinh quang của Bác. Và tràng hoa tưởng niệm cũng ko phải bình thường mà nó được kết bằng hàng triệu tấm lòng dâng lên Bác, dâng lên “bảy mươi chín mùa xuân”. Một hình ảnh hoán dụ kết hợp ẩn dụ vô cùng độc đáo, lấy một nét trong cuộc đời Bác Hồ ( bảy mươi chín tuổi) để chỉ Bác Hồ; con người ấy sống một cuộc đời đẹp như mùa xuân và đem lại mùa xuân trường cửu cho dân tộc và đất nước. Quả thật Viễn Phương đã khéo léo chọn giọng điệu, ngôn ngữ và hình ảnh thích hợp để diễn tả sâu sắc niềm kính yêu, ngưỡng bộ đối với Bác.

    Ta lại theo bước chân nhà thơ vào trong lăng. Đây là giây phút thiêng liêng vì đã được nhìn thấy:

    “Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
    Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền”

    Với nỗi đau đớn, xúc động nghẹn ngào, nhà thơ không muốn chấp nhận sự thật rằng Bác đã mất mà tưởng tượng Bác chỉ “nằm trong giấc ngủ bình yên” sau một cuộc đời vất vả, hi sinh vì dân vì nước chưa hề được nghỉ ngơi. Giấc ngủ của Bác thật bình yên giữa một vùng ánh sáng nhè nhẹ “dịu hiền” được miêu tả như vần trăng. Con người tha thiết yêu trăng mà chưa bao giờ được bình yên để ngắm ấy bây giờ đã được yên nghỉ cùng trăng.

    Nhưng sự thật vẫn là sự thật lí trí nhắc nhở nhà thơ: Bác mất thật rồi! Cho nên cảm xúc dâng trào đã bật thành lời:

    “Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
    Mà sao nghe nhói ở trong tim.”

    Ở đây có sự hòa quyện giữa hai cảm xúc về sự bất tử trường tồn của Bác, cảm xúc về nỗi đau và nỗi nhớ Bác khôn nguôi. Bác là “mãi mãi” như bầu trời xanh bất diệt, vĩnh viễn ở trên đầu và ở trong tâm tưởng của mỗi người, vĩnh viễn với non sông đất nước. Nhưng Bác mất thật rồi, ko còn thấy trong cuộc đời này nữa. Cái thiếu vắng ấy lấy gì mà bù đắp được? Tiếng “nhói” vút cao lên nói hộ ta bao nỗi đau đớn xót xa. Đó là niềm xót xa, làm rung cảm rất chân thật của bất cứ ai vào lăng viếng Bác.

    Xót xa, lưu luyến mấy rồi cũng phải chia tay. Bác nằm lại với “giấc ngủ bình yên”, mỗi người lại phải chia xa:

    “Mai về miền Nam thương trào nước mắt”

    Câu thơ như có gì tiếc nuối, nghẹn ngào, xót xa. Một tiếng “thương” một hình ảnh “trào nước mắt” là trọn vẹn tình cảm của nhân dân miền Nam đối với Bác. Đó là niềm kính yêu, lòng kính trọng biết ơn đối với con người cao thượng và vĩ đại dành trọn cuộc đời mình cho dân cho nước. Đó là nỗi xót đau đến lặng người vì sẽ mãi mãi ko cong thấy Bác. Thương Bác nhưng ko thể rời xa rời sự nghiệp mà người đã để lại cho con cháu, đành phải giã biệt Bác. Chân bước ra đi mà lòng còn lưu luyến. Nỗi niềm đó còn được diễn đạt trong mấy câu thơ giàu hình ảnh:

    “Muốn làm con chim hót quanh lăng Bác
    Muốn làm đoá hoa toả hương đâu đây
    Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này”

    Về cuối bài, nhịp điệu câu thơ trở nên dồn dập với điệp ngữ “muốn làm” nhắc lại đến ba lần nhấn mạnh ước nguyện sâu sắc, chân thành của tác giả. Và hàng loạt hình ảnh ẩn dụ cụ thể hóa ước nguyện đó: con chim dâng tiếng hót, bông hoa dâng mùi hương, cây tre trung hiếu canh giữ cho giấc ngủ bình yên của Bác. Tất cả đều bên lăng, ở quanh lăng. Tất cả đều nói lên tấm lòng kính yêu vô hạn của tác giả và cũng là của nhân dân đối với Bác.

    Bài thơ đã được cố nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ nhạc và trở thành bài hát được nhiều người thích. Sở dĩ như vậy bởi vì bài thơ đã giàu tính nhạc: giọng điệu thiết tha trầm lặng, trang nghiêm và thành kính; nhịp thơ chậm. Qua đó, tác giả đã bộc lộ cảm xúc tràn đầy, những tình cảm lớn lao thiêng liêng của mình và cũng là của nhân dân đối với Bác Hồ, đồng thời ca ngợi vinh quang của Bác. Tình cảm đối với Bác là tình cảm cao cả, nâng cao tâm hồn con người. Với những giá trị đó, “Viếng lăng Bác” là một đóng góp quý báo vào kho tàng thơ ca viết về Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ vĩ đại, kính yêu của dân tộc.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )