Môn Văn Lớp: 9 nêu cảm nhận của em về 2 khổ thơ đầu cửa bài viếng lăng bác hoặc 2 khổ thơ cuối nêu cảm nhận của em 2 khổ thơ dầu bài mùa xuân nho nhỏ hay t

Question

Môn Văn Lớp: 9 Giúp em bài này với ạ: nêu cảm nhận của em về 2 khổ thơ đầu cửa bài viếng lăng bác hoặc 2 khổ thơ cuối
nêu cảm nhận của em 2 khổ thơ dầu bài mùa xuân nho nhỏ hay từ ta làm con chim hót dếm tóc bạc
mn ơi giúp em vớ mai em kt r mn có thể kh chép mạng hộ em ạ No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Maria 1 tuần 2021-09-14T23:53:38+00:00 1 Answer 0

Answers ( )

  1. 1,

    A, MB

    – GIỚI THIỆU TÁC GIẢ: Nhà thơ Thanh Hải hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống Pháp cứu nước. Trong thời kỳ chống Mỹ, ông lại quê hương mình là mảnh đất Huế để hoạt động và trở thành một trong những cây bút có sức ảnh hưởng đến văn nghệ cách mạng miền Nam thời kỳ đầu.

    – GIỚI THIỆU BÀI THƠ: Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác trước sự ra đi của tác giả không lâu. Bài thơ đã thể hiện được tình yêu cuộc sống thiết tha và khát vọng sống cao đẹp của nhà thơ. Trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, nhà thơ Thanh Hải đã bộc lộ những khát vọng sống cống hiến của mình một cách sâu sắc và nhân văn qua khổ thơ thứ 4 và thứ 5.

    B, TB

    1, KHỔ 4 và khổ 5

    – Ở khổ thơ thứ 4 bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, cấu trúc điệp từ “Ta làm” đã cho thấy khát vọng được cống hiến cho đời của nhà thơ. Cách dùng đại từ xưng hô “ta” cho thấy một sự khát vọng cá nhân nằm trong sâu thẳm trong tâm trí nhà thơ Thanh Hải. Có lẽ, từ tận sâu trong trái tim của mình, nhà thơ thực sự mong ước bản thân được cống hiến và đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước, làm đẹp cho cuộc đời. Những hình ảnh “con chim hót, một cành hoa, một nốt trầm” là những hình ảnh ẩn dụ cho những điều đóng góp làm đẹp cho đời của tác giả.

    – Chao ôi, trong sâu thẳm tâm hồn của mình, Thanh Hải thực sự mình có thể đóng góp cho cuộc đời chung, dù chỉ là một con chim hót đóng góp tiếng hót cho đời, một cành hoa cho hương sắc hay một nốt trầm xao xuyến vào bản hòa ca chung của đất nước. Những dòng thơ cho thấy khát vọng cống hiến của nhà thơ, dù chỉ là những đóng góp nhỏ bé nhưng sâu thẳm trong nhà thơ, những sự cống hiến ấy là đóng góp vào cuộc đời chung. Theo em, đây là quan điểm sống vô cùng nhân văn và giàu ý nghĩa. Mỗi cá nhân đóng góp vào cuộc đời chung để làm cho cuộc đời thêm tươi đẹp và hạnh phúc, tạo nền tảng hạnh phúc bền lâu cho cuộc đời và con người

    – Tiếp theo, ở khổ thơ thứ 5, hình ảnh mùa xuân nho nhỏ ở đây là hình ảnh ẩn dụ cho những khát vọng, việc làm cống hiến cho cuộc sống, cho đất nước. Theo em, đây là hình tượng nghệ thuật độc đáo và mang đầy giá trị nhân văn. Mùa xuân nho nhỏ chính là những khát vọng được cống hiến, làm đẹp cho đời của mỗi cá nhân. Tư tưởng ấy thực sự là tư tưởng cao đẹp và mang đầy tính nhân văn của con người.Con người sống trên đời đều cần một lý tưởng sống cho mình. Và lý tưởng sống cao đẹp nhất đó là lý tưởng sống cống hiến, sống cho đi mà không cần báo đáp, sống để tô điểm cho đời, sống để cống hiến và xây dựng cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn.

    – Nếu mỗi người đều có thái độ sống đẹp và giàu triết lý như vậy thì cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều. Từ “lặng lẽ” trong bài thơ là thái độ cống hiến và xây dựng cuộc sống một cách âm thầm, lặng lẽ, không cần ai biết đến. Tư tưởng sống cống hiến của nhà thơ Thanh Hải còn được thể hiện qua việc bất chấp tuổi tác “Dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc”. Dù ở độ tuổi nào thì con người sống trên đời cũng cần cống hiến vào cuộc sống chung, góp mình vào công cuộc chuyển mình và dựng xây đất nước. Đây là khổ thơ mà em thích nhất bởi vì nó thể hiện tư tưởng sống cao đẹp và đầy tính nhân văn, mỗi người, mỗi cá nhân đều có thể tạo nên 1 mùa xuân nho nhỏ để góp phần xây dựng nên mùa xuân trường tồn mãi mãi của đất nước giàu đẹp và xã hội phồn vinh.

    2, Liên hệ tác phẩm cùng chủ đề

    Khổ bốn và năm làm ta liên tưởng đến bài thơ “Một khúc ca xuân” của tác giả Tố Hữu. Tác giả đã lấy hình ảnh của con chim và chiếc lá để truyền tải thông điệp đầy nhân văn và sâu sắc này. Trong cuộc sống, bổn phận của mỗi cá nhân cũng giống như chim phải hót, lá phải xanh. Chúng ta phải sống cống hiến và lao động hết mình. Đồng thời chúng ta cũng cần cho đi yêu thương để nhận lại được hạnh phúc và những điều tốt đẹp cho cuộc sống. Chính sự cho đi làm cho chúng ta trở nên hạnh phúc và sống ý nghĩa hơn.

    C, KB: TỔNG KẾT

    Tóm lại, hai khổ thơ bốn và năm bài thơ Mùa xuân nho nhỏ và bài thơ “Một khúc ca xuân” đã truyền tải thông điệp đến người đọc về thái độ sống cống hiến và sống có ý nghĩa cho đời. Mỗi cá nhân đều đóng góp nên sự phát triển chung của toàn thể xã hội và cộng đồng.

    BÀI LÀM:

    Nhà thơ Thanh Hải hoạt động văn nghệ từ cuối những năm kháng chiến chống Pháp cứu nước. Trong thời kỳ chống Mỹ, ông lại quê hương mình là mảnh đất Huế để hoạt động và trở thành một trong những cây bút có sức ảnh hưởng đến văn nghệ cách mạng miền Nam thời kỳ đầu. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác trước sự ra đi của tác giả không lâu. Bài thơ đã thể hiện được tình yêu cuộc sống thiết tha và khát vọng sống cao đẹp của nhà thơ. Trong bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”, nhà thơ Thanh Hải đã bộc lộ những khát vọng sống cống hiến của mình một cách sâu sắc và nhân văn qua khổ thơ thứ 4 và thứ 5.

    Ở khổ thơ thứ 4 bài thơ Mùa xuân nho nhỏ, cấu trúc điệp từ “Ta làm” đã cho thấy khát vọng được cống hiến cho đời của nhà thơ. Cách dùng đại từ xưng hô “ta” cho thấy một sự khát vọng cá nhân nằm trong sâu thẳm trong tâm trí nhà thơ Thanh Hải. Có lẽ, từ tận sâu trong trái tim của mình, nhà thơ thực sự mong ước bản thân được cống hiến và đóng góp vào sự nghiệp chung của đất nước, làm đẹp cho cuộc đời. Những hình ảnh “con chim hót, một cành hoa, một nốt trầm” là những hình ảnh ẩn dụ cho những điều đóng góp làm đẹp cho đời của tác giả. Chao ôi, trong sâu thẳm tâm hồn của mình, Thanh Hải thực sự mình có thể đóng góp cho cuộc đời chung, dù chỉ là một con chim hót đóng góp tiếng hót cho đời, một cành hoa cho hương sắc hay một nốt trầm xao xuyến vào bản hòa ca chung của đất nước. Những dòng thơ cho thấy khát vọng cống hiến của nhà thơ, dù chỉ là những đóng góp nhỏ bé nhưng sâu thẳm trong nhà thơ, những sự cống hiến ấy là đóng góp vào cuộc đời chung. Theo em, đây là quan điểm sống vô cùng nhân văn và giàu ý nghĩa. Mỗi cá nhân đóng góp vào cuộc đời chung để làm cho cuộc đời thêm tươi đẹp và hạnh phúc, tạo nền tảng hạnh phúc bền lâu cho cuộc đời và con người. Tiếp theo, ở khổ thơ thứ 5, hình ảnh mùa xuân nho nhỏ ở đây là hình ảnh ẩn dụ cho những khát vọng, việc làm cống hiến cho cuộc sống, cho đất nước. Theo em, đây là hình tượng nghệ thuật độc đáo và mang đầy giá trị nhân văn. Mùa xuân nho nhỏ chính là những khát vọng được cống hiến, làm đẹp cho đời của mỗi cá nhân. Tư tưởng ấy thực sự là tư tưởng cao đẹp và mang đầy tính nhân văn của con người.Con người sống trên đời đều cần một lý tưởng sống cho mình. Và lý tưởng sống cao đẹp nhất đó là lý tưởng sống cống hiến, sống cho đi mà không cần báo đáp, sống để tô điểm cho đời, sống để cống hiến và xây dựng cộng đồng ngày một tốt đẹp hơn. Nếu mỗi người đều có thái độ sống đẹp và giàu triết lý như vậy thì cuộc sống sẽ trở nên tốt đẹp hơn rất nhiều. Từ “lặng lẽ” trong bài thơ là thái độ cống hiến và xây dựng cuộc sống một cách âm thầm, lặng lẽ, không cần ai biết đến. Tư tưởng sống cống hiến của nhà thơ Thanh Hải còn được thể hiện qua việc bất chấp tuổi tác “Dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc”. Dù ở độ tuổi nào thì con người sống trên đời cũng cần cống hiến vào cuộc sống chung, góp mình vào công cuộc chuyển mình và dựng xây đất nước. Đây là khổ thơ mà em thích nhất bởi vì nó thể hiện tư tưởng sống cao đẹp và đầy tính nhân văn, mỗi người, mỗi cá nhân đều có thể tạo nên 1 mùa xuân nho nhỏ để góp phần xây dựng nên mùa xuân trường tồn mãi mãi của đất nước giàu đẹp và xã hội phồn vinh.

    Khổ bốn và năm làm ta liên tưởng đến bài thơ “Một khúc ca xuân” của tác giả Tố Hữu. Tác giả đã lấy hình ảnh của con chim và chiếc lá để truyền tải thông điệp đầy nhân văn và sâu sắc này. Trong cuộc sống, bổn phận của mỗi cá nhân cũng giống như chim phải hót, lá phải xanh. Chúng ta phải sống cống hiến và lao động hết mình. Đồng thời chúng ta cũng cần cho đi yêu thương để nhận lại được hạnh phúc và những điều tốt đẹp cho cuộc sống. Chính sự cho đi làm cho chúng ta trở nên hạnh phúc và sống ý nghĩa hơn.

    Tóm lại, hai khổ thơ bốn và năm bài thơ Mùa xuân nho nhỏ và bài thơ “Một khúc ca xuân” đã truyền tải thông điệp đến người đọc về thái độ sống cống hiến và sống có ý nghĩa cho đời. Mỗi cá nhân đều đóng góp nên sự phát triển chung của toàn thể xã hội và cộng đồng.

    ******

    2, 

    A, MB

    – giới thiệu tác giả Viễn Phương: Nhà thơ Viễn Phương có tên thật là Phan Thanh Viễn. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, ông hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và là một cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời chống Mĩ cứu nước. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông là: “Anh hùng mìn gạt”, “Như mây mùa xuân”, “Lòng mẹ”,… Ở những bài thơ của Viễn Phương, người đọc thấy được phong cách thơ giàu cảm xúc nhưng không bi lụy mà mang chút nền nã, thì thầm, bâng khuâng.

    – Bài thơ Viếng lăng Bác được sáng tác vào tháng 4 năm 1976. Khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước nước thống nhất, lăng Bác Hồ mới được khánh thành. Viễn phương ra Bắc thăm Bác, nhà thơ đã viết bài thơ này và được in trong tập “Như mây mùa xuân” năm 1978.

    – Hai khổ thơ đầu bài thơ đã thể hiện được sự xúc động cùng tình cảm kính yêu của nhà thơ trong hoàn cảnh ra thăm viếng lăng Bác.

    B, TB

    1, Khổ 1: sự xúc động trong hoàn cảnh ra thăm viếng lăng Bác.

    nhà thơ đã có những dòng thơ xúc động về hoàn cảnh ra viếng thăm vị cha già kính yêu của dân tộc:

    “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

    Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

    Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng”.

    Bài thơ mở đầu bằng câu thơ bộc bạch hoàn cảnh ra viếng lăng Bác của một người con miền Nam “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Cách xưng hô “con-Bác” cho thấy sự gần gũi và kính trọng như của một người con đối với một người cha vĩ đại. Cách xưng hô này làm em liên tưởng đến những dòng thơ “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha”. Đối với mỗi người dân miền Nam nói riêng và VN nói chung thì Bác Hồ chính là vị cha già bao dung ôm cả đất nước vào lòng. Nay nhà thơ ra miền Bắc thăm lăng Bác và tác giả dùng từ “thăm” thay vì “viếng” như một cách nói giảm nói tránh. Người đọc có cảm giác giống như một buổi đi thăm người thân, mà ở đây là một người con miền Nam đi thăm vị cha già kính yêu của mình. Câu thơ thứ ba là một câu cảm thán của tác giả “Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam”. Câu thơ như một tiếng reo hân hoan và niềm tự hào về biểu tượng của dân tộc và con người VN: tre VN trồng quanh lăng Bác. Tre VN là hình ảnh ẩn dụ của con người VN qua bao thế hệ với phẩm chất “Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng”. Bão táp mưa sa chính là ẩn dụ của những năm tháng khó khăn, vất vả lam lũ của người dân VN. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ấy, con người VN vẫn chính là những cây tre quật cường, anh dũng, nhân hậu với những phẩm chất tốt đẹp và tre xanh VN cũng giống như vậy. Tóm lại, khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác là những dòng thơ hết sức xúc động về hoàn cảnh đi viếng lăng của nhà thơ.

    2, Khổ 2: sự xúc động khi hòa vào dòng người viếng lăng Bác

    nhà thơ đã có những dòng thơ vô cùng xúc động về cảm xúc của mình khi hòa vào dòng người đi vào viếng Bác:

    “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

    Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

    Câu thơ “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” là câu sử dụng hình ảnh ẩn dụ vô cùng đặc sắc. Hình ảnh “mặt trời” đầu tiên là hình ảnh của mặt trời tả thực của vũ trụ còn hình ảnh “mặt trời” thứ hai chính là hình ảnh ẩn dụ của Bác. Nhờ có hình ảnh ẩn dụ này, tác giả đã nhấn mạnh được tầm quan trọng và sự vĩ đại, bất tử như vũ trụ của Người. Nếu như mặt trời quan trọng với sinh vật trên trái đất thì Bác Hồ chính là vầng thái dương không bao giờ tắt, mang đến ánh sáng và hy vọng cho dân tộc VN vượt khỏi ách nô lệ và lầm than. Hai câu thơ tiếp theo là hình ảnh của đoàn người vào thăm viếng Hồ Chủ tịch. Hai từ “thương nhớ” đã bộc lộ sự tiếc thương và kính yêu của nhân dân đối với Bác đến muôn đời. Điệp ngữ “Ngày ngày” đã cho thấy một sự lặp đi lặp lại từ ngày này qua ngày khác của dòng người vào lăng viếng Bác cũng như sự tuần hoàn của vũ trụ. ngày ngày, thời gian vẫn trôi đi, vũ trụ vẫn chuyển động, nhân dân vẫn thương nhớ và Bác thì đã đi vào giấc ngủ vĩnh hằng mãi mãi. Tiếp theo hình ảnh “bảy mươi chín mùa xuân” là hình ảnh vô cùng đặc sắc thể hiện sự kính yêu của nhân dân đối với Bác. Hình ảnh “tràng hoa” không chỉ thay thể được “vòng hoa” (gợi sự buồn thương) mà còn nhấn mạnh được tình yêu và sự kính trọng Bác của nhân dân VN. Hình ảnh hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân” có ý nghĩa là trng 79 năm Bác sống và làm việc, Người đã đem đến 79 mùa xuân tươi đẹp của đất nước. Bác luôn sống và bất tử trong trái tim của nhân dân VN. 

    C, KB

    Tóm lại, hai khổ thơ đầu đã thể hiện tình cảm kính yêu vô bờ cùng sự xúc động của nhà thơ trong hoàn cảnh ra thăm viếng lăng Bác. Đó cũng chính là tâm trạng, tình cảm chung của toàn thể nhân dân VN

    BÀI LÀM

    Nhà thơ Viễn Phương có tên thật là Phan Thanh Viễn. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mĩ, ông hoạt động ở chiến trường Nam Bộ và là một cây bút có mặt sớm nhất của lực lượng văn nghệ giải phóng ở miền Nam thời chống Mĩ cứu nước. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông là: “Anh hùng mìn gạt”, “Như mây mùa xuân”, “Lòng mẹ”,… Ở những bài thơ của Viễn Phương, người đọc thấy được phong cách thơ giàu cảm xúc nhưng không bi lụy mà mang chút nền nã, thì thầm, bâng khuâng. Bài thơ Viếng lăng Bác được sáng tác vào tháng 4 năm 1976. Khi cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc thắng lợi, đất nước nước thống nhất, lăng Bác Hồ mới được khánh thành. Viễn phương ra Bắc thăm Bác, nhà thơ đã viết bài thơ này và được in trong tập “Như mây mùa xuân” năm 1978. Hai khổ thơ đầu bài thơ đã thể hiện được sự xúc động cùng tình cảm kính yêu của nhà thơ trong hoàn cảnh ra thăm viếng lăng Bác

    Ở khổ một, nhà thơ đã có những dòng thơ xúc động về hoàn cảnh ra viếng thăm vị cha già kính yêu của dân tộc:

    “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác

    Đã thấy trong sương hàng tre bát ngát

    Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam

    Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng”.

    Bài thơ mở đầu bằng câu thơ bộc bạch hoàn cảnh ra viếng lăng Bác của một người con miền Nam “Con ở miền Nam ra thăm lăng Bác”. Cách xưng hô “con-Bác” cho thấy sự gần gũi và kính trọng như của một người con đối với một người cha vĩ đại. Cách xưng hô này làm em liên tưởng đến những dòng thơ “Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà/ Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha”. Đối với mỗi người dân miền Nam nói riêng và VN nói chung thì Bác Hồ chính là vị cha già bao dung ôm cả đất nước vào lòng. Nay nhà thơ ra miền Bắc thăm lăng Bác và tác giả dùng từ “thăm” thay vì “viếng” như một cách nói giảm nói tránh. Người đọc có cảm giác giống như một buổi đi thăm người thân, mà ở đây là một người con miền Nam đi thăm vị cha già kính yêu của mình. Câu thơ thứ ba là một câu cảm thán của tác giả “Ôi! Hàng tre xanh xanh Việt Nam”. Câu thơ như một tiếng reo hân hoan và niềm tự hào về biểu tượng của dân tộc và con người VN: tre VN trồng quanh lăng Bác. Tre VN là hình ảnh ẩn dụ của con người VN qua bao thế hệ với phẩm chất “Bão táp mưa sa, đứng thẳng hàng”. Bão táp mưa sa chính là ẩn dụ của những năm tháng khó khăn, vất vả lam lũ của người dân VN. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh khó khăn ấy, con người VN vẫn chính là những cây tre quật cường, anh dũng, nhân hậu với những phẩm chất tốt đẹp và tre xanh VN cũng giống như vậy. Tóm lại, khổ thơ đầu bài Viếng lăng Bác là những dòng thơ hết sức xúc động về hoàn cảnh đi viếng lăng của nhà thơ.

    Tiếp theo, nhà thơ đã có những dòng thơ vô cùng xúc động về cảm xúc của mình khi hòa vào dòng người đi vào viếng Bác:

    “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng

    Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ

    Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ

    Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”

    Câu thơ “Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng/Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ” là câu sử dụng hình ảnh ẩn dụ vô cùng đặc sắc. Hình ảnh “mặt trời” đầu tiên là hình ảnh của mặt trời tả thực của vũ trụ còn hình ảnh “mặt trời” thứ hai chính là hình ảnh ẩn dụ của Bác. Nhờ có hình ảnh ẩn dụ này, tác giả đã nhấn mạnh được tầm quan trọng và sự vĩ đại, bất tử như vũ trụ của Người. Nếu như mặt trời quan trọng với sinh vật trên trái đất thì Bác Hồ chính là vầng thái dương không bao giờ tắt, mang đến ánh sáng và hy vọng cho dân tộc VN vượt khỏi ách nô lệ và lầm than. Hai câu thơ tiếp theo là hình ảnh của đoàn người vào thăm viếng Hồ Chủ tịch. Hai từ “thương nhớ” đã bộc lộ sự tiếc thương và kính yêu của nhân dân đối với Bác đến muôn đời. Điệp ngữ “Ngày ngày” đã cho thấy một sự lặp đi lặp lại từ ngày này qua ngày khác của dòng người vào lăng viếng Bác cũng như sự tuần hoàn của vũ trụ. ngày ngày, thời gian vẫn trôi đi, vũ trụ vẫn chuyển động, nhân dân vẫn thương nhớ và Bác thì đã đi vào giấc ngủ vĩnh hằng mãi mãi. Tiếp theo hình ảnh “bảy mươi chín mùa xuân” là hình ảnh vô cùng đặc sắc thể hiện sự kính yêu của nhân dân đối với Bác. Hình ảnh “tràng hoa” không chỉ thay thể được “vòng hoa” (gợi sự buồn thương) mà còn nhấn mạnh được tình yêu và sự kính trọng Bác của nhân dân VN. Hình ảnh hoán dụ “bảy mươi chín mùa xuân” có ý nghĩa là trng 79 năm Bác sống và làm việc, Người đã đem đến 79 mùa xuân tươi đẹp của đất nước. Bác luôn sống và bất tử trong trái tim của nhân dân VN. 

    Tóm lại, hai khổ thơ đầu đã thể hiện tình cảm kính yêu vô bờ cùng sự xúc động của nhà thơ trong hoàn cảnh ra thăm viếng lăng Bác. Đó cũng chính là tâm trạng, tình cảm chung của toàn thể nhân dân VN

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )