Môn Văn Lớp: 9 Bài thơ Bếp lửa của ai ??? Phân tích bài thơ ấy.

Question

Môn Văn Lớp: 9 Giúp em bài này với ạ: Bài thơ Bếp lửa của ai ??? Phân tích bài thơ ấy. No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Josie 1 tuần 2022-04-17T13:36:19+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. – Bài thơ bếp lửa của Bằng Việt

                                                                                BÀI LÀM

                    Những kỉ niệm tuổi ấu thơ ai mà chẳng có. Tế Hanh có “con sông xanh biếc” với những người bạn bè bơi lội, vui đùa. Giang Nam có “thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường”. Nguyễn Duy có một sân “chơi đáo, chơi vòng” của bạn bè cùng lứa, có tuổi thơ thả hồn với đồng ruộng. Bằng Việt cũng có một tuổi thơ da diết vọng về với hình ảnh người bà thân yêu. Chính tình cảm bà cháu thân thương, ấm áp đã đan dệt thành một bài thơ đầy xúc động và khơi gợi nhiều ý nghĩa. Đó là bài thơ “Bếp lửa”.

                   Khi nhớ về quê hương, người ta thường nhớ về những kỉ niệm gắn bó với làng quê có con sông xanh biếc, cây đa, bến nước, sân đình…Nhưng dòng hồi tưởng của Bằng Việt lại bắt đầu từ hình ảnh thân thương về bếp lửa:

                                             “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm

                                                Một bếp lửa ấp iu nồng đượm”

                  Từ láy tượng hình “chờn vờn” giúp ta hình dung ánh lửa hồng khi mờ khi tỏ trong sớm mai, gợi về cái mờ nhòa của kí ức theo thời gian. Người cháu xa nhà không thể nào quên được bếp lửa bình dị, thân quen. Không chỉ thấy cái “chờn vờn” của ngọn lửa mà cháu còn cảm nhận được cái hơi ấm của màu than đỏ đang “ấp iu nồng đượm”. Từ láy “ấp iu” vừa diễn tả chính xác công việc nhóm lửa vừa gợi bàn tay khéo léo, kiên nhẫn và tấm lòng chăm chút của người nhóm bếp. Tình cảm trào dậy một cách tự nhiên:

                                        “Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

                   “Nắng mưa” là hình ảnh ẩn dụ quen thuộc gợi ra bao vất vả, nhọc nhằn, thăng trầm trong cuộc đời bà để nuôi cháu khôn lớn. Chữ “thương” được dùng thật đắt qua vần thơ cảm thán đã gói trọn bao cảm xúc của cháu dành cho bà. Từ đây bà và bếp lửa là hai hình ảnh sóng đôi, đi suốt dọc bài thơ và theo cả nỗi nhớ của người cháu.

       Từ bếp lửa nhớ về người nhóm lửa, ký ức đưa người cháu trở về những năm lên bốn tuổi:

                              “Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói

                                  Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,

                                 Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,

                                 Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu

                                  Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!”

                     Tuổi thơ của cháu không phải là vòm trời cổ tích cao rộng với những phép màu diệu kì của ông Bụt, bà Tiên. Tuổi thơ của cháu thật nhọc nhằn, quen mùi khói bếp nhà nghèo và có bóng đêm ghê rợ của nạn đói năm 45. Thành ngữ “đói mòn đói mỏi” diễn tả cái đói triền miên, dai dẳng, cái đói vắt kiệt sinh lực của biết bao nhiêu con người. Người bố đi đánh xe với con ngựa gầy, tất cả trong mùi khói hun đến nghẹt thở, nao lòng cả tuổi thơ. Nghĩ mà thương tuổi thơ gian khó, nghĩ mà cồn cào một nỗi nhớ thương bà. Cái cay nồng mà người cháu cảm nhận được không phải là mùi khói bếp mà đó chính là dư vị tuổi thơ ám ảnh trong tâm thức bỗng trỗi dậy mạnh mẽ. Năm tháng qua đi nhưng nó đã trở thành vết thương lòng đâu dễ nguôi ngoai.

                      Qua những năm tháng đói mòn đói mỏi lại nhớ về kỉ niệm những năm chiến tranh “Mẹ cùng xa công tác bận không về”. Tám năm cháu ở cùng bà. Bên ánh lửa bập bùng, bà vừa là cha, là mẹ, bà dạy dỗ cháu nên người:

                                           “Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,

                                            Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học”

                  Sự xuất hiện của hàng loạt những động từ “dạy”, “bảo”, “chăm”, “học”, “ở”, “nghe”, “làm” diễn tả những công việc lặng thầm của bà. Mỗi cử chỉ của bà đều thấm đẫm tình yêu thương, sự cưu mang, đùm bọc cháu.

                 Bếp lửa còn đánh thức thêm kỉ niệm nữa của tuổi thơ, kỉ niệm với tiếng chim tu hú. Tiếng chim tu hú là âm thanh quen thuộc của làng quê mỗi độ vào hè. Tiếng chim râm ran trong vòm lá, trên cánh đồng, cứ khắc khoải kêu hoài, kêu mãi, giục giã cả một khoảng trời, khiến cho lòng người trỗi dậy những hoài niệm nhớ mong. Nhà thơ đang kể chuyện mà như tách hẳn ra để trò chuyện cùng bà:

                                    “Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?

                                       Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.”

               Những câu chuyện đó là sự từng trải của cuộc đời bà và bà muốn nhắc nhở cháu hãy sống thật tốt, thật có ích cho cuộc đời. Tự nhiên cháu thấy thương bà quá. Cháu thương bà vất vả, lo toan, không biết ngỏ cùng ai chỉ biết tâm tình với chim tu hú mà thôi:

                                “Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,

                             Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

              Câu hỏi tu từ đã thể hiện được những cung bậc cảm xúc trong tâm trạng của người cháu. Như vậy hình ảnh “bếp lửa” đã đánh thức kỉ niệm tuổi thơ, ở đó lung linh hình ảnh người và có cả hình ảnh đất nước.

                 Hình ảnh người bà bỗng trở nên cao lớn vĩ đại khi người cháu nhớ về những năm tháng đau thương, vất vả khi giặc tàn phá xóm làng. Lời dặn “Mày có viết thư chớ kể này kể nọ. Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!” không chỉ gợi ra giọng nói hiền từ của bà, suy nghĩ của bà mà còn làm sáng lên phẩm chất của bà. Bà đã nhận về mình tất cả mất mát, khổ đau để con cháu yên tâm đánh giặc. Bà là người mẹ, người bà, người phụ nữ Việt Nam trong kháng chiến. Với Bằng Việt, họ gánh cả kháng chiến lên đôi vai bé nhỏ của mình.

                 Từ những kỉ niệm hồi tưởng về tuổi thơ, về bà, người cháu trở về với hiện tại để suy ngẫm về cuộc đời và những lẽ sống về bà, cũng là để thương bà nhiều hơn, nhớ bà nhiều hơn:

                                          “Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,

                                               Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,

                                                 Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…”

                     Từ bếp lửa bình dị thân quen ấy đã nâng lên thành ngọn lửa. Ngọn lửa không chỉ được nhen lên bằng những nguyên liệu đời thường mà còn được nhen lên từ tấm lòng bao la của bà, được bà ấp ủ, chở che nên không bao giờ vụt tắt. Điệp từ “rồi” kết hợp với hai danh từ chỉ thời gian “sớm”, “chiều” khiến câu thơ vang lên như bước gõ nhịp của thời gian. “Bếp lửa” là hình ảnh tả thực còn “ngọn lửa” được chuyển hóa thành hình ảnh biểu tượng. Ngọn lửa là những kỉ niệm lòng nâng bước cháu trên chặng đường dài. Ngọn lửa là niềm tin dai dẳng, bền bỉ, bất diệt bà nhen lên trong lòng cháu. Nhờ ngọn lửa ấy mà cháu tin vào chiến thắng của dân tộc. Điệp ngữ “một ngọn lửa” cùng kết cấu song hành vừa tạo nhạc tính cho câu thơ khiến lời thơ dồn dập, tha thiết mà mạnh mẽ, xúc động, vừa khẳng định sức sống mãnh liệt, bất tận của ngọn lửa bà nhen.

    Theo dòng hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu, hình ảnh người bà hiện lên lung linh, sáng đẹp, ấm áp:

                                            “Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa

                                               Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ

                                                     Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm

                                                 Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,

                                        Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,

                                             Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,

                                           Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…”

                   Từ láy “lận đận” giàu giá trị gợi cảm được đảo lên đầu dòng thơ gợi ra bao vất vả, nhọc nhằn, gian truân của cuộc đời người bà. Điệp từ “nhóm” đứng ở đầu mỗi dòng thơ, nhắc đi nhắc lại bốn lần khắc ghi những ý nghĩa trong công việc nhóm lửa của bà. Mỗi sớm mai bà nhóm lên bếp lửa là nhóm lên niềm yêu thương; nhóm sự chở che, cưu mang đùm bọc giữa ngọt bùi, khoai sắn; nhóm sự sẻ chia, đoàn kết của tình làng, nghĩa xóm; nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ của cháu. Bà không chỉ là người nhóm lửa mà còn là người truyền lửa và giữ lửa. Bà không chỉ làm công việc khởi đầu của một ngày mà còn làm công việc khởi đầu của một đời người. Từ đây cảm xúc về bà và bếp lửa dâng trào lên mãnh liệt:

                                         “Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

    Người cháu giờ đây đã khôn lớn trưởng thành, nhưng trong sâu thẳm lòng cháu vẫn da diết một nỗi nhớ thương về bà và bếp lửa:

                                       “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
      
                                           Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,

                                     Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:

                                       – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…”

                Nơi cháu đang sống với đầy đủ tiện nghi vật chất, khác hẳn với không gian của bà cháu nơi quê nhà, nhưng cháu luôn nhớ về bà, nhớ về ngọn lửa bà nhen. Câu hỏi tu từ ở cuối bài thơ nhắc nhở cháu không nguôi nhớ về những kỉ niệm về bà và bếp lửa.

                  Bài thơ đã sáng tạo hình ảnh bếp lửa vừa thực vừa mang ý nghĩa biểu tượng. Bài thơ có sự kết hợp giữa miêu tả, biểu cảm, tự sự và bình luận, giọng điệu và thể thơ tám chữ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm của người cháu. Bài thơ chứa đựng một ý nghĩa thầm kín: Những gì là thân thiết nhất với tuổi thơ mỗi người đều có sức tỏa sáng, nâng đỡ con người trên hành trình dài rộng của cuộc đời.

                  Khép lại bài thơ Bếp Lửa, ta có thể khẳng định rằng “Tác phẩm là kết tinh tâm hồn người sáng tác”. Bài thơ đã thể hiện được tất cả tình yêu thương của Bằng Việt đối với người bà kính yêu của mình. Chính tình cảm bà cháu thiêng liêng ấm áp đã đan dệt thành một bài thơ xúc động và mang nhiều ý nghĩa.

  2. BẾP LỬA

    – Bằng Việt –

    PHÂN TÍCH TÁC PHẨM “BẾP LỬA”

    1. Hình ảnh bếp lửa khơi gợi cảm xúc

    “Một bếp lửa chờn vờn sương sớm
    Một bếp lửa ấp iu nồng đượm
    Cháu thương bà biết mấy nắng mưa!”

    – “Một bếp lửa” : điệp ngữ.

    – “chờn vờn” : từ láy tượng hình.

    – “ấp iu” : ấp ủ và nâng niu.

    – “biết mấy nắng mưa” : ẩn dụ.

    ⇒ Gợi sự khéo léo, chi chuốt của bà.
    ⇒ Điệp ngữ, từ láy tượng hình, từ ghép sáng tạo, ẩn dụ.

    2. Kỉ niệm về bà –

    Lên bốn tuổi cháu đã quen mùi khói
    Năm ấy là năm đói mòn đói mỏi,
    Bố đi đánh xe, khô rạc ngựa gầy,
    Chỉ nhớ khói hun nhèm mắt cháu
    Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay!

    Tám năm ròng, cháu cùng bà nhóm lửa
    Tu hú kêu trên những cánh đồng xa
    Khi tu hú kêu, bà còn nhớ không bà?
    Bà hay kể chuyện những ngày ở Huế.
    Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế!
    Mẹ cùng cha công tác bận không về,
    Cháu ở cùng bà, bà bảo cháu nghe,
    Bà dạy cháu làm, bà chăm cháu học,
    Nhóm bếp lửa nghĩ thương bà khó nhọc,
    Tu hú ơi! Chẳng đến ở cùng bà,
    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?

    Năm giặc đốt làng cháy tàn cháy rụi
    Hàng xóm bốn bên trở về lầm lụi
    Đỡ đần bà dựng lại túp lều tranh
    Vẫn vững lòng, bà dặn cháu đinh ninh:
    “Bố ở chiến khu, bố còn việc bố,
    Mày có viết thư chớ kể này kể nọ,
    Cứ bảo nhà vẫn được bình yên!”

    – “đói mòn đói mỏi” : cái đói kéo dài, kiệt quệ 
    ⇒ Qúa khứ đầy khổ đau.
    ⇒ Cách nói láy lại.
    – “khói hun nhèm” : xua đi hiện thực đói khổ ; xua tan mùi tử khí.
    – “Nghĩ lại đến giờ sống mũi còn cay” : mùi khói in đậm trong tâm trí ; dâng lên nỗi xúc động nghẹn ngào.
    ⇒ Giàu hình ảnh.
    ⇒ Cuộc sống tuổi thơ giàu hình ảnh khó khăn.

    – “Tám năm ròng” : khoảng thời gian dài.

    – “cháu” cùng “bà” : hình ảnh sóng đôi.

    – “Tu hú kêu” : sự khắc khoải, cô đơn.

    – “Tiếng tu hú sao mà tha thiết thế !” : ngân nga, vang xa, khắc khoải, nhớ mong.

    ⇒ Cháu sống trong tình yêu thương của bà.

    – “Tu hú ơi ! Chẳng đến ở cùng bà

    Kêu chi hoài trên những cánh đồng xa?”

    ⇒ Câu hỏi tu từ.

    – “lầm lụi” : từ láy.

    – “đinh ninh” : thái độ dứt khoát.

    ⇒ Hi sinh, vất vả, cuộc đời dành cho con, cho cháu.
    ⇒ Phẩm chất cao quý của bà.

    3. Suy ngẫm về bà và cuộc đời bà 

    Rồi sớm rồi chiều, lại bếp lửa bà nhen,
    Một ngọn lửa, lòng bà luôn ủ sẵn,
    Một ngọn lửa chứa niềm tin dai dẳng…

    Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
    Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
    Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
    Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm,
    Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi,
    Nhóm niềm xôi gạo mới, sẻ chung vui,
    Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ…
    Ôi kỳ lạ và thiêng liêng – bếp lửa!”

    – “Rồi sớm rồi chiều” : thời gian.

    – “Một ngọn lửa” : điệp ngữ.

    – “ủ sẵn” ; “chứa” : động từ.

    ⇒ Điệp ngữ, động từ.
    ⇒ Khẳng định ý chí, bản lĩnh sống của bà.
    ⇒ Bà nhóm, giữ và truyền lửa cho thế hệ sau.

    – “Lận đận” : từ ngữ gợi hình.

    – “biết mấy nắng mưa” : nghệ thuật ẩn dụ.

    – “Nhóm” : điệp ngữ

    ⇒ Nghệ thuật điệp ngữ.
    – Nhấn mạnh, khẳng định giá trị tinh thần đặc biệt, khơi dậy từ hình ảnh rất thân quen.

    4. Nỗi nhớ bà của người cháu phương xa

    “Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu,
    Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả,
    Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
    – Sớm mai này, bà nhóm bếp lên chưa?…

    – “Giờ cháu đã đi xa . Có ngọn khói trăm tàu”

    – “.” : Dấu chấm giữa câu thơ cho thấy nỗi xúc động nghẹn ngào của tác giả.

    – “.” : Dấu chấm ấy còn cho thấy cảm xúc của tác giả đang dâng trào.

    – “.” : Dấu chấm ấy như khép lại khung trời quá khứ kỉ niệm, mở ra khung trời hiện tại.

    – “ngọn khói” ; “trăm tàu” ; “lửa” ; “trăm nhà” ; “niềm vui” ; “trăm ngả” 

    ⇒ Nghệ thuật liệt kê, điệp ngữ.

    – “trăm” : rất nhiều.

    ⇒ Hóan dụ, điệp ngữ và liệt kê.
    ⇒ Nơi mà cháu sống hiện đại và tiện nghi, khác xa quê nhà.

    – “Nhưng” : đối lập => tình cảm không thay đổi

    ⇒ Sự thủy chung.

    – “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”

    ⇒ Tự hỏi chính mình
    ⇒ Không được quên và không bao giờ quên bà và quê hương.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )