Môn Văn Lớp: 8 bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Đà Nẵng giúp mình với ạ :(((( bài văn thuyết minh về một món ăn nữa ạ mong mọi người giúp

Question

Môn Văn Lớp: 8 Giúp em bài này với ạ: bài văn thuyết minh về một danh lam thắng cảnh ở Đà Nẵng
giúp mình với ạ :((((
bài văn thuyết minh về một món ăn nữa ạ
mong mọi người giúp em vs ạ No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Rylee 1 tuần 2021-11-24T11:29:16+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Thuyết minh về danh lam thắng cảnh, Ngũ Hành Sơn

    Đã 4 năm kể từ khi gia đình tôi chuyển ra sinh sống tại thành phố Đà Nẵng xinh đẹp, đến nay tôi đã thực sự yêu mảnh đất này mất rồi, quả thật Đà Nẵng rất xứng đáng được mệnh danh là thành phố đáng sống nhất Việt Nam. Tôi đã từng xem cầu Rồng phun lửa, cũng đã xem cầu sông Hàn quay, thỉnh thoảng lại ghé thăm chùa Linh Ứng và còn nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn khác mà tôiđã từng đặt chân đến. Nhưng ấn tượng với tôi nhất có lẽ là danh thắng Ngũ Hành Sơn (hay còn gọi là núi Non Nước), một sự hòa quyện tuyệt vời giữa thiên nhiên và kiến trúc chùa chiền.

    Ngũ Hành Sơn nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 10km, thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng, có diện tích rộng khoảng 2 km vuông. Về tên gọi, Non Nước là cái tên đã được sử dụng từ lâu đời, được hiểu là những ngọn núi đá vôi mọc lên bên cạnh bờ biển, biển là đại diện cho yếu tố “nước”. Sau này đến thời vua Minh Mạng thì được ban cho tên mới là Ngũ Hành Sơn, dựa trên vị trí địa lý từng ngọn núi và theo quy luật âm dương – ngũ hành, cái tên mới này nghe văn hoa và có cơ sở hơn so với tên cũ, tuy nhiên hiện nay người ta vẫn sử dụng song song cả hai tên để chỉ khu vực thắng cảnh này.

    Ngũ Hành Sơn lấy năm ngọn núi làm gốc, với tên gọi theo ngũ hành lần lượt là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, và mỗi ngọn núi này lại có những đặc điểm thú vị riêng biệt. Ví như ngọn Hỏa Sơn nằm về hướng Tây Nam, gần sát trục đường Lê Văn Hiến, gồm hai hòn là Âm Hỏa Sơn và Dương Hỏa Sơn, đá ở đây thường mang sắc đỏ tượng trưng cho hành Hỏa. Nằm giữa hai hòn này chùa Ứng Thiên. Âm Hỏa Sơn là hòn cao hơn, mọc dựng đứng, xung quanh các thớ đá cây cối mọc len lỏi phủ kín một màu xanh, hòn này không có động, chỉ còn sót lại mấy dòng chữ khắc dưới chân núi “Phổ Đà Sơn Quan Âm điện”, bởi khi xưa nơi đây đã từng thờ Quan thế âm Bồ Tát, nên nó còn mang một tên khác khác ấy là Phổ Đà Sơn. Hòn còn lại thấp hơn ấy là Dương Hoả Sơn, nằm cạnh bờ sông, gồm có chùa Linh Sơn và động Huyền Vi, một số di tích của người Chăm, còn có chùa và hang cùng mang tên Phổ Đà Sơn. Phía Tây Bắc là ngọn Thổ Sơn, là ngọn núi thấp nhất nhưng cũng dài nhất trong 5 ngọn, nhìn từ trên xuống trông Thổ Sơn như một con rồng đang nằm nghỉ ngơi trên bãi cát vàng, đây được cho là thánh địa của người Chăm với những kiến trúc Chăm độc đáo. Dưới chân núi hiện nay là nơi dựa lưng của chùa Huệ Quang và chùa Long Hoa, ngoài ra còn phát hiện dấu tích của một địa đạo, tuy nhiên không biết đã có từ khi nào. Kẹp giữa hai ngọn Hỏa Sơn và Thổ Sơn là ngọn Kim Sơn, nhìn xa xa ngọn núi này trông như hình dáng của một quả chuông khổng lồ đang úp sấp bên cạnh dòng sông Trường vốn là khúc nối tiếp của con sông Hàn rộng lớn. Dưới chân núi có ngôi chùa Quan Âm cổ kính và hệ thống hang động Quan Âm tối tăm, huyền bí, là nơi hấp dẫn nhiều du khách thăm quan, khám phá

    Nổi tiếng nhất có lẽ phải kể đến ngọn Thủy Sơn, đây là ngọn núi cao nhất và đẹp nhất, với khối kiến trúc chùa chiền lồng ghép cùng hệ thống núi đá và hang động tự nhiên, là nơi dừng chân tham quan của nhiều du khách. Thủy Sơn gồm có ba đỉnh thường gọi là Tam Thai, tính theo độ cao từ dưới lên thì Hạ Thai là đỉnh thấp nhất, đồng thời cũng là cổng vào, với hệ thống bậc thang bằng đá. Những bậc thang này sẽ dẫn đến điểm đầu tiên là chùa Linh Ứng, sau đó lần lượt du khách đi tham quan các địa điểm khác như tháp Xá Lợi, ghé Vọng Hải Đài nhìn ra xa xa sẽ thấy một vùng biển xanh rộng lớn, mênh mông trong nắng vàng, sau đó ghé ngang qua động Tàng Chơn. Những bậc thang lại tiếp tục đưa ta đi sang ngọn thứ hai gọi là Trung Thai, ngọn này cao hơn nên du khách leo một lúc sẽ cảm thấy thấm mệt, nhưng khi đã bước được đến Cổng Trời (đỉnh của ngọn Trung Thai) thì dường như chút mệt mỏi ấy chẳng thấm vào đâu so với những gì ta được chiêm ngưỡng, được thu cả thành phố vào trong tầm mắt, được hứng từng cơn gió trời khoáng đạt, cùng ánh nắng dìu dịu tuyệt vời. Sau khi từ Cổng Trời quay xuống ta lần lượt khám phá các hang động như: Vân Thông, Thiên Long, Thiên Phước Địa, nói chung kết cấu của các hang động này khá giống nhau, chúng đều là hang động tự nhiên, ở một số động ta còn thấy cả thạch nhũ có màu hồng hồng như đá của ngọn núi này. Cuối cùng cao nhất là ngọn Thượng Thai, ở đây các kiến trúc nổi bật phải kể đến là chùa Tam Thai, chùa Tam Tôn, chùa Từ Tâm, khu vực Hành Cung, Vọng Giang Đài, về phía động có động Huyền Không và động Linh Nha hay được ghé thăm nhất. Ngoài những địa điểm kể trên Thủy Sơn còn là nơi lưu giữ hai di vật cổ quý giá, có ý nghĩa lịch sử đó là tấm bia Phổ Đà Sơn Linh Trung Phật nằm tại động Hoa Nghiêm và tấm Kim bài hình quả tim lửa do chính tay vua Minh Mạng đề bút để ban tặng cho chùa Tam Thai. Cuối cùng ít nổi bật nhất ấy là ngọn Kim Sơn, ngọn này có vị trí song song với Thủy Sơn nhưng hình ảnh lại khác xa, ở đây cây cối thưa thớt, núi lại bị đào phá nham nhở nên trông khá mất mỹ quan.

    Khu danh thắng này còn là nơi lưu giữ tổ nghề điêu khắc đá mỹ nghệ, có tuổi đời đã hơn bốn trăm năm, liên tục cho ra những sản phẩm tinh tế, đặc sắc như: Trang sức, tượng điêu khắc và nhiều sản phẩm khác. Những sản phẩm nàyđược đưa đến mọi miền Tổ quốcvà đã có lần được đưa ra Hà Nội để trang hoàng cho lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ngày nay các cơ sở sản xuất đang có nhiều hướng đi mới từ các loại đá khác nhau, tương lai của nghề điêu khắc đá mỹ nghệ nơi đây hứa hẹn sẽ còn phát triển và rộng mở hơn nữa.

    Khu danh thắng Ngũ Hành Sơn đã vinh dự được Bộ văn hóa công nhận là di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia vào ngày 22 tháng 3 năm 1990. Có bài Vịnh Ngũ Hành Sơn như sau:

    “Cảnh trí nào hơn cảnh trí này,
    Bồng Lai âu hẳn cũng là đây.
    Núi chen sắc đá màu phơi gấm,
    Chùa nức hơi hương khói lẫn mây.
    Ngư phủ gác cần ngơi mặt nước,
    Tiều phu chống búa tựa lưng cây.
    Nhìn xem phong cảnh ưa lòng khách,
    Khen bấy thợ trời khéo đắp xây”

    Quả thật nếu có duyên một lần được ghé thăm Đà Nẵng, các bạn hãy tìm đến với Ngũ Hành Sơn để thưởng thức không gian thiên nhiên tuyệt đẹp, cùng với một trải nghiệm vận động khi được tự mình đi bộ và leo hết hơn 200 bậc thang, tuy hành trình có chút mệt mỏi nhưng hẳn đây sẽ là kỷ niệm khó quên đối với mảnh đất miền Trung đầy nắng gió này.

    Thuyết Minh Về Một Món Ăn, Món Phở Hà Nội

    Đặc sản Hà Nội có nhiều, Hà Nội là địa điểm nổi tiếng với ẩm thực hấp dẫn, không chỉ đối với du khách nước ngoài mà còn lôi cuốn người Việt Nam. Nhưng nhắc đến món ăn Hà Nội là người ta nhắc đầu tiên đến phở. Phở như một thứ đại diện mang tính bản sắc, đặc thù của món ăn Hà Nội. Lý do thật đơn giản phở Hà Nội khác hẳn các nơi khác, nó không thể trộn lẫn với bất cứ một thứ phở nơi nào, cho dù ở đó người ta đã cố tình trương lên cái biển Phở Hà Nội.

    Không biết, phở Hà Nội có tự bao giờ, chỉ biết rằng, phở đã đi vào trang viết của rất nhiều nhà văn như: Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Băng Sơn hay Vũ Bằng,… Phở, dưới những ngòi bút ấy, gần như chẳng còn ai có thể tả hay hơn nữa, và cũng chẳng cần ai phải tốn công mà viết thêm về Phở nữa vì nó đã quá đủ đầy, đã quá nổi tiếng rồi.

    Và cũng không biết từ bao giờ phở đã trở thành món ngon nổi tiếng và khi thưởng thức phở ở Hà Nội người ta mới thấy được hương vị truyền thống. Phở Hà Nội là một món ăn đặc biệt của người Hà Nội đã có từ rất lâu.

    Thạch Lam trong Hà Nội Ba Mươi Sáu Phố Phường viết: Phở là một thứ quà đặc biệt của Hà Nội, không phải chỉ riêng Hà Nội mới có, nhưng chính là vì chỉ ở Hà Nội mới ngon”. Phở ngon phải là phở “cổ điển”, nấu bằng thịt bò, “nước dùng trong và ngọt, bánh dẻo mà không nát, thịt mỡ gầu giòn chứ không dai, chanh ớt với hành tây đủ cả”, “rau thơm tươi, hồ tiêu bắc, giọt chanh cốm gắt, lại điểm thêm một ít cà cuống, thoảng nhẹ như một nghi ngờ”. Vào thời những năm 1940, phở đã rất phổ biến ở Hà Nội: “Đó là thứ quà ăn suốt ngày của tất cả các hạng người, nhất là công chức và thợ thuyền. Người ta ăn phở sáng, ăn phở trưa và ăn phở tối….

    Nguyễn Tuân, nhà văn của “Vang bóng một thời” đã có một tùy bút xuất sắc về phở. Ông cho phở có một “tâm hồn”, phở là “một miếng ăn kỳ diệu của tất cả người Việt Nam chân chính”. Cố đạo diễn điện ảnh Phạm Văn Khoa lúc sinh thời kể rằng, có lần ông cùng Nguyễn Tuân đang ăn phở, một người yêu thích nhận ra nhà văn bước lại chào nhưng Nguyễn Tuân vẫn vục đầu vào ăn. Người kia chắc chắn mình không nhầm đã kiên trì chờ đợi. Hết tô phở Nguyễn Tuân mới ngẩng mặt lên bảo “Tôi đang thưởng thức nên không trả lời, anh thứ lỗi”. Nhà văn không dùng chữ ăn mà dùng chữ thưởng thức.

    Phở được dùng riêng như là một món quà sáng hoặc trưa và tối, không ăn cùng các món ăn khác. Nước dùng của phở được làm từ nước ninh của xương bò: xương cục, xương ống và xương vè. Thịt dùng cho món phở có thể là bò, hoặc gà. Bánh phở phải mỏng và dai mềm, gia vị của phở là hành lá, hạt tiêu, giấm ớt, lát chanh thái. Phở luôn phải ăn nóng mới ngon, người Hà Nội còn ăn kèm với những miếng quẩy nhỏ. Tuy nhiên, để có được những bát phở ngon còn tùy thuộc vào kinh nghiệm và bí quyết truyền thống của nghề nấu phở.

    Trong món phở Hà Nội công đoạn chế biến nước dùng, còn gọi nước lèo, là công đoạn quan trọng nhất. Nước dùng của phở truyền thống là phải được ninh từ xương ống của bò cùng với một số gia vị. Xương phải được rửa sạch, cạo sạch hết thịt bám vào xương cho vào nồi đun với nước lạnh. Nước luộc xương lần đầu phải đổ đi để nước dùng khỏi bị nhiễm mùi hôi của xương bò, nước luộc lần sau mới dùng làm nước lèo. Gừng và củ hành đã nướng đồng thời cũng được cho vào. Lửa đun được bật lớn để nước sôi lên, khi nước đã sôi thì phải giảm bớt lửa và bắt đầu vớt bọt. Khi đã vớt hết bọt, cho thêm một ít nước lạnh và lại đợi nước tiếp tục sôi tiếp để vớt bọt…Cứ làm như vậy liên tục cho đến khi nước trong và không còn cặn trong bọt nữa. Sau đó, cho một ít gia vị vào và điều chỉnh độ lửa sao cho nồi nước chỉ sôi lăn tăn để giữ cho nước khỏi bị đục và chất ngọt từ xương có đủ thời gian để tan vào nước lèo.

    Có thể nói, PhởHà Nội có cái ngọt chân chất của xương bò, cái thơm của thịt vừa chín đến độ để vẫn dẻo mà lại không dai. Màu nước phở trong, bánh phở mỏng và mềm. Chỉ nhìn bát phở thôi cũng đủ thấy cái chất sành điệu, kỹ càng trong ăn uống của người Hà Nội. Một nhúm bánh phở đã trần qua nước nóng mềm mại dàn đều trong bát, bên trên là những lát thịt thái mỏng như lụa điểm mấy ngọn hành hoa xanh nõn, mấy cọng rau thơm xinh xắn, mấy nhát gừng màu vàng chanh thái mướt như tơ, lại thêm mấy lát ớt thái mỏng vừa đỏ sậm vừa màu hoa hiên.

    Tất cả màu sắcđó như một bức hoạ lập thể hơi bạo màu nhưng đẹp mắt cứ dậy lên hương vị, quyện với hơi nước phở bỏng rẫy, bốc lên nghi ngút, đánh thức tất thảy khả năng vị giác, khứu giác của người ăn, khiến ta có cảm giác đang được hưởng cái tinh tế của đất trời và con người hợp lại. Chỉ húp một tý nước thôi đã thấy tỉnh người. Thịt thì mềm, bánh thì dẻo, thỉnh thoảng lại thấy cái cay dịu của gừng, cái cay nồng của ớt, cái thơm nhè nhẹ của rau thơm, cái thơm của thịt bò tươi mềm. Tất cả cứ ngọt lừ đi, ngọt một cách hiền lành, êm nhẹ mà chân thật, tuyệt kỹ hài hoà.

    Ta có thể thưởng thức nhiều hương vị phở tại Hà Nội.

    Có ba món phở chính:
    Phở nước: Cho bánh phở, thịt, rau thơm và gia vịvào một cái bát ôtô rồi chan ngập nước dùng nóng lên.
    Phở xào: Xào bánh phở cùng thịt và rau thơm.
    Phở áp chảo: Xào bánh phở trong mỡ nóng tới khi bánh phở trở lên nâu giòn, rồi thêm gia vị.

    Trong ba loại phở trên thì phở nước là phổ biến hơn cả. Phở nước gồm có: Phở Bò, phở Gà, phở Tim gan. Tuy nhiên, người sành điệu chỉ ăn phở chuộng nhất phở Bò, thứ đến là phở gà và không chấp nhận những loại phở khác.

    Đối với du khách nước ngoài thì phở được coi là món ngon hấp dẫn và lạ miệng bởi sự tinh túy. Để thưởng thức phở ngon thì cần phải để phở trong bát sứ chứ không phải là bát thủy tinh hay bát nhựa. Bát đựng phở không được quá to hay quá nhỏ. Nếu bát quá nhỏ, nước dùng sẽ chóng nguôi và không có đủ chỗ để thit, rau thơm và gia vị. Nếu bát to quá thì chưa ăn hết một bát bạn đã thấy chán vì phở chỉ là một món ăn nhẹ hoặc món ăn thêm.

    Khi ăn phở, một tay cầm đũa còn tay kia cầm thìa. Dùng đũa tre là thích hợp nhất vì nó giản dị và không bị trơn khi gắp bánh phở. Bàn ăn phở cần hơi thấp so với bình thường để nước dùng không vương vào quần áo bạn khi cúi xuống gắp sợi bánh phở lên ăn.

    Trông bạn sẽ rất kỳ cục nếu bạn uống bia hoăc trà đá khi ăn phở. Tuy nhiên, bạn nhấm nháp một chén cuốc lủi để bát phở thêm ngon thì có thể chấp nhận được. Nhưng thường thì không dùng đồ uống hoặc các đồ ăn khác khi ăn phở, ăn như vậy mới càng thấy phở ngon.

    Nếu có cơ hội đến với Hà Nội thì bạn nên thưởng thức hương vị phở đặc trưng này nhé! Phở Hà Nội là như thế, đó là cái ngon của tất thảy những chất liệu đời thường Việt Nam nhưng đã được bàn tay tài hoa của người Hà Nội làm thành tác phẩm!

     

  2. Cơn mưa lạnh đầu mùa trút xuống những mái hiên cổ kính khiến cho phố cổ Hội An nhỏ nhắn dường như co mình lại. Đâu đó tiếng rao đêm vang lên lanh lảnh làm xao động cả một khoảng trời: “Ai bánh chưng, bánh dày không?”.

    Có lẽ, người dân trong nước cũng như nước ngoài không ai không biết đến Hội An: một khu phố cổ, đơn sơ, mộc mạc, nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng ba mươi ki-lô-mét. Hội An đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1999.

    Bước chân vào phố cổ, du khách sẽ thực sự ngạc nhiên trước một thế giới biệt lập. Không một tiếng gầm rú của xe cộ, tiếng ồn phát ra từ các nhà máy, xí nghiệp, hay ánh đèn ne-on rực rỡ sắc màu. Tất cả đã lùi xa, không gian và thời gian dường như lắng động trên mái ngói rêu phong cũ kĩ, những căn nhà gỗ từ xa xưa, chùa Cầu, quán hội Phúc Kiến, Quảng Đông, đang âm thầm, lặng lẽ tồn tại để người ta nhớ về một quá khứ đã qua. Ở đây, khách du lịch còn có thể thưởng thức những món ăn dân dã và đi thăm các làng nghề truyền thống, được gặp các con người “cổ”. Không những thế, du khách còn có thể tự tay làm cho mình một cái bình, ly, tách, bằng gốm để làm quà cho người thân.

    Có lẽ, thời điểm phố cổ Hội An đẹp nhất là vào ban đêm. Khu phố nhỏ nhắn này trở nên lãng mạn và sâu lắng hơn, mang một nỗi niềm hoài cổ, khó có thể diễn tả được. Sáng kiến khôi phục đèn lồng vào mùa thu năm 1998 đã đem lại hiệu quả bất ngờ. Vào buổi tối, khoảng sau hai mươi giờ, mọi người dân trong phố cổ quay lại đời sống vào ba trăm năm trước. Họ tự nguyện tắt hết đèn ne-on, thay vào đó là ánh sáng mập mờ huyền ảo phát ra từ những chiếc đèn lồng.

    Những chiếc đèn tròn, lục lăng theo kiểu Trung Hoa treo ở cửa ra vào, đèn quả trám hay ống dài của Nhật Bản phất giấy trắng treo lơ lửng ở mái hiên. Vào đêm hội hoa đăng, tất cả mọi người phải tắt hết tất cả các thiết bị điện. Tuy nhiên họ không hề cảm thấy bất tiện vì việc này.

    Cường độ ánh sáng có giảm đi, song ngọn lửa nhiệt huyết của mỗi con người vẫn bốc mạnh khi đi ngang phố cổ. Nhìn những mái nhà cũ kĩ, những người phụ nữ trong tà áo dài trắng đang cặm cụi làm việc dưới ánh đèn lồng, hay hai cụ già râu tóc bạc phờ so tài cờ tướng, nhâm nhi tách trà, cũng dưới ánh đèn lung linh, huyền ảo đó. Dường như con người đang đi ngược lại dòng thời gian để sống với những thứ đã từng hiện hữu.

    Vào những đêm lễ hội, người ta thường tổ chức chơi đập niêu, kéo co, và nhiều trò chơi dân gian khác nữa. Khách du lịch cũng như người dân phố cổ tham gia rất hào hứng và nhiệt tình, tạo nên khung cảnh nhộn nhịp và sức sống tràn đầy cho thành phố. Những câu hò giã gạo, hò khoan, vang lên trên những chiếc thuyền trong đêm khuya thanh vắng. Các cô gái mặc áo bà ba, dịu dàng, thanh thoát làm rung động trái tim bao chàng lữ khách.

    Hội An đã trở thành một huyền thoại, một dấu ấn khó phai nhòa của lịch sử, của những ai đã từng đặt chân đến nơi đây. Hội An sẽ mãi tồn tại trong tâm trí của chúng ta, để con người được sống với những cái đã qua, những vẻ đẹp giản dị của quá khứ.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )