Môn Văn Lớp: 8 bài thuyết minh về núi hồng sông La ( không phải sông lam)

Question

Môn Văn Lớp: 8 Giúp em bài này với ạ: bài thuyết minh về núi hồng sông La
( không phải sông lam) No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Skylar 1 ngày 2021-11-26T06:28:16+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Mùa thu này, ai về Hà Tĩnh, không thể không đến thăm 99 đỉnh núi Hồng, nơi có chùa Hương Tích – tại xã Thiên Lộc – Can Lộc vào mùa cúng rằm tháng Bảy. Vâng 99 Ngọn Núi Hồng, là một dãy núi đẹp nằm sát biển Dông, hàng ngày soi bóng bờ biển phía Nghi Xuân – quê hương Đại thi hào Nguyễn Du.

    Núi Hồng, có tên Nôm là Ngàn Hống hay là gọi theo dân gian xứ Nghệ là Rú Hống, cũng đọc là Hống, tên chữ là Hồng Sơn (núi Hồng) hay Hồng Lĩnh, nằm trên vùng đất của 3 huyện Can Lộc, Lộc Hà và Nghi Xuân. Toạ độ từ 105 41’ đến 105 55’ kinh đông và từ 18 28’ đến 18 39’ vĩ bắc. Mạch núi chạy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, từ nam Bến Thuỷ vào đến Bắc, Cửa Sót.

    Toàn Núi Hồng, chia làm 3 nhóm núi: Nhóm Thiên Tượng và nhóm Đụn ngăn cách nhau bởi tuông Eo Bầu. Hồng Lĩnh là đợt cuối chót của sơn khối kéo dài từ Pu-lây-Leng( tây bắc Nghệ An), có kiến tạo từ 200 triệu năm trước, với độ cao 2711m ( Rào Cỏ). Hồng Lĩnh có nhiều đỉnh, tục truyền là 99 đỉnh và theo truyền thuyết Ông Đùng xếp núi thì đỉnh thứ 100 là Rú Rum (Lam Thành) ở bờ bắc sông Lam, chưa kịp dắt về để cho đủ 100 ngọn núi Hồng. Thực tế đo đạc địa lý có hơn 60 đỉnh nhô cao lên từ mấy chục mét và cao nhất là 676m. Tính từ tây bắc xuống có các đỉnh: Nam Bàn, Yên Xuân, Đà Hồng, Cột Cờ, Thiên Tượng, Mồng Già (có 2 ngọn), Bạch Tỵ, Hương Tích, Tai Voi , Mũi Rồng, Ông, Tháp Cờ, Chân Tiên ….Tại đây, xã Thịnh Lộc, nằm sát mé biển Đông, vẫn còn một dấu tích bàn chân hình 5 ngón hằn sâu vào tảng đá lớn, mà nghìn năm nay, con người Hà Tĩnh dù còn nghèo, song không bao giờ quên tôn thờ tổ tiên để lại. Nay ai đến đây, dù là nhà khảo cổ học, hay địa chất học giỏi, cũng vân khó mà giải thích ra là dấu chân người tiền sử, hay là thiên nhiên đã ban tặng cho xứ Nghệ của đất Hà Tĩnh này.

    Tại dãy núi Hồng, còn có nhiều ngọn được mang tên kỳ thú do người đời Hà Tĩnh xưa đã đặt và lưu truyền đời này qua đời khác. Hiện về đây, ta sẽ thấy có 8 cửa truông – tiếng xứ Nghệ, chỉ nơi giao cắt qua núi, đi lại dễ – rất thuận tiện cho đi lại qua Hồng Lĩnh từ Tây sang Đông và từ bắc xuống nam, như truông: Cộng Khánh, Vắn (Cố Ghép)… Trong núi có nhiều hang động như: động 12 cửa, động Chẻ Hai, động Đá Hang, động Hàm Rồng… Tại các mạch nước trên cao tầng núi trãi xuống, có đến 26 khe suối chảy từ trong núi ra và ngày nay có hàng mấy chục đập nước ở chân núi Hồng Lĩnh, một số ao hồ ở lưng núi và chân núi như Bàu Tiên, Vực Nguyệt, Ao Núi Lân, Bàu Mỹ Dương. Về tài nguyên ở núi Hồng Lĩnh có rừng thông hơn 11.000 ha do Lâm trường Hồng Lĩnh quản lý. Rừng phòng hộ theo dự án 327 ngày một phủ xanh đồi trọc, cùng với rừng cây thì chim muông về theo ngày càng đông đúc hơn. Nổi tiếng của Hồng Lĩnh là bề dày của các di sản văn hoá – lịch sử, từ các di tích như: đỉnh Tháp Cờ, nơi hoàng tử, con Mai Thúc Loan xây căn cứ, Núi Lầu có hành cung của Lý Thánh Tông , Luỹ Đá của Ngô Quảng nổi lên chống Pháp và nhiều huyền thoại, truyền thuyết liên quan đến núi Hồng như: Ông Đùng xếp núi, truyền thuyết về kinh đô của Vua Hùng…. và bao nhiêu giai thoại, thần thoại khác. Hình tượng Núi Hồng là một trong những danh thắng của cả nước được khắc trên Anh Đỉnh tại Kinh thành Huế (Năm Minh Mạng Thứ 7-1836 đã khắc vào đỉnh này). Ngày nay núi Hồng Lĩnh đang được tỉnh cho khoán rừng, bà con nông dân vừa có đất cải thiện thêm cuộc sống, vừa có rừng phủ xanh, nhanh chóng. Chính vì thế mười năm nay, rừng tại núi Hồng Lĩnh đã phủ xanh hàng ngàn ha rừng ở đây. Nay ta theo đường xe ô tô lên tới , đang được làm đẹp để xứng đáng là danh sơn muôn đời của quê hương, đất nước Hà Tĩnh.

    Cuối chân dãy núi Hồng Lĩnh, là soi bóng núi cao xuống dòng Sông La. Sông Lalà một phụ lưu của sông Lam, do hai nhánh là Ngàn Sâu và Ngàn Phố chảy từ núi cao của dãy Trường Sơn, đổ về. Sông Lanước chảy đôi bờ chỉ dài 12,5 km chảy qua huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh.Sông La là hợp lưu của hai sông Ngàn Phố (từ Hương Sơn đồ về) và sông Ngàn Sâu (từ Hương Khê và Vũ Quang) tại bến Tam Soa (Linh Cảm, Đức Thọ). Đến lượt nó lại hợp lưu với sông Cả (từNghệ An chảy sang) tạo thành dòng sông Lam rộng lớn, nằm giữa 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh.

    Sông La là một dòng sông rất đẹp,và trữ tình, có phong cảnh nên thơgiữa 2 bờ của bà con Nghệ An và Hà Tĩnh chung nhau làm nên truyến thống Xô Viết từ năm 1930. Đây là sơn thủy hữu tình,nguồn cảm ứng sáng tạo cho nhiềuthi nhân và nhạc sĩvề xứ Nghệ cũng như nhiều miền quê khác về đây. Ngay như Huy Cận, nhà thơ của đất Hà Tĩnh, khi viết bài thơ nổi tiếng Tràng Giang, đã không cầm lòng được trước vẻ đẹp của Sông La – Đức Thọ – Hà Tĩnh, là quê của ông:

    …Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiuĐâu tiếng làng xa vãn chợ chiềuNắng xuống, trời lên sâu chót vótSông dài, trời rộng, bến cô liêu…

    Đến thăm núi Hồng Lĩnh, ta vào viếng chùa Hương Tích cổ kính. Nơi đây là một di tích văn hóa cấp Quốc gia, đã tồn tại 13 thế kỷ được con người Hà Tĩnh trân trọng, bảo tồn, phát triển. Cứ mỗi năm sau rằng tháng giêng, hay rằm tháng bảy ai đi qua xứ Nghệ mà không vào vãn cảnh chùa Hương Tích để cầu chúc cho phước, lộc trường tồn, là chưa về Hà Tĩnh. Tại chùa Hương Tích, khi ta lên viếng chùa, ta như lạc vào nhiều cảnh trí đẹp, soi bóng ra bãi biễn Đông ở phía H.Nghi Xuân.

    Núi Hồng và sông La, ai đã là người Hà Tĩnh, dù đi khắp mọi phương trời vẫn không bao giờ quên được. Nơi đây, dẫu còn là xứ nghèo, song là vùng đất của lòng hiếu học, văn – võ chữ nghĩa song toàn đã kết tinh nên nhiều thiên tài và lãnh tụ cho dân tộc. Đất nghèo quê tôi, dầu ai có đi “ngái xa mô mà nỏ chộ” vẫn trong tâm niệm của người Hà Tĩnh – có Núi Hồng – Sông La tồn tại mãi muôn đời./.

  2. Núi Hồng, một khối núi đồ sộ, nổi lên giữa đồng bằng 3 huyện Can Lộc, Nghi Xuân và Đức Thọ, chiếm một diện tích khoảng 30km2, xấp xỉ với diện tích đồng bằng cả huyện Nghi Xuân. Ngọn núi cao nhất trong dãy là núi Ông. Các sách địa chí xưa chép đó là ngọn núi Hương Tích, dân gian quen gọi là ngọn Tháp Cờ. Đỉnh cao của nó cũng chỉ 676m, nhưng do tính chất liền khoảnh, vẫn gây cho ta cảm giác là nó rất cao: Dãy dài trùng điệp ngất trời xanh     (Dịch thơ chữ Hán của Thiệu Trị, khắc bia đá dựng ở chân núi Hồng). Núi Hồng không những chiếm một diện tích hoàn chỉnh, mà còn phóng ra các đồng bằng bao quanh nhiều quả núi nhỏ lẻ, riêng biệt, tạo thành một quần thể núi đẹp.

              Sông Lam dài 520km, phần chảy trong tỉnh chỉ 390km, kể từ Kỳ Sơn xuống Cửa Hội. Dòng chảy từ nguồn xuống hạ lưu theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, đến chỗ hợp lưu sông La, phía Đông Bắc núi Hồng thì đổi dòng theo hướng Tây Nam – Đông Bắc. Diện tích toàn lưu vực 27 nghìn km2. Nguồn có độ cao trên 2.000m. Những kỳ nước lớn, từng eo, từng khúc nước đổ ầm ầm – (nhất loan, nhất khúc thủy trùng trùng – Thơ Đoàn Nguyên Tuấn).        Hệ thống sông Lam gồm 151 sông, ngoài sông chính có 2 chi lưu: Sông Nghèn chảy ra Cửa Sót và Sông Cấm chảy ra Cửa Lò.

              Cả sông và núi được thiên nhiên cấu trúc tôn tạo thành một “bảo tàng” lộ thiên, khách tham quan không cần gõ cửa. Các hiện vật mang một bề dày lịch sử và hầu như nguyên sơ. Hiện tại nó vẫn là vùng kỳ quan mỗi cảnh một mê say (Phong quang nhất mộng nhất kỳ quan – thơ Ngô Thì Nhậm).

     Núi Hống ai đắp mà cao

    Sông Rum ai bới ai đào mà sâu

              Thuở còn ấu thơ, hẳn ai cũng đã từng nghe bà hát ru mình như thế, “Hống” có người chiều theo vần, vô ý là đọc là “Hồng”. Trong câu ca này phải đọc “Hống” mới đúng. Hống đối với Rum, một cặp tên nôm đối xứng. Khó mà biết được câu ca ấy đã xuất hiện từ thời nào. Chắc hẳn là xưa lắm. Ít ra cũng đã có từ thuở ông cha ta đang quen nói theo tiếng cổ, và khi đã nhận thức được rằng, cặp núi sông này có tầm cỡ lớn nhất trong vùng mình sống. Nó còn có tên là núi Lớn, sông Cả. Dân gian thường dùng “ngàn” để gọi chung cả núi và sông: Ngàn Hống, Ngàn Cả.

                                 Nửa đêm ngong ngàn Hống

                                 Thấy mây ấp đã quang

                                 Canh tư vừa sang

                                 Con chim trời vừa kêu

                                 Con gà nhà đã gáy…  

              Khi chưa có chữ Nôm, ông cha ta đã phải sử dụng chữ Hán như một thứ văn tự chính thức để ghi chép giao dịch, trong đó có địa danh. Tên núi Hống – sông Rum, vốn là tiếng Nôm, được chuyển dịch sang từ Hán – Việt: Hồng Lĩnh – Lam Giang. Các văn bản Hán Nôm cổ còn lại cho chúng ta biết một tên núi Hồng mà có hai cách viết biểu thị khác nhau. Cách thứ nhất viết: Hồng () = nước lũ, nước lụt (bộ thủy bên chữ cọng). Cách thứ hai: Hồng ()= chim hồng (bộ điểu bên chữ giang). Theo từ Hán cả hai chữ “Hồng” còn có một nghĩa chung nữa là “Lớn”và đều gần đồng âm với Hống. Văn bản có từ thời Lê – Trịnh về trước, phần nhiều viết theo cách thứ nhất: Thơ Lê Hữu Trác (7), văn bia Lê Chiêu Nghi (8), chữ khắc ở chuông chùa Hương Tích, câu đối khắc ở am Thánh mẫu, cạnh chùa Hương Tích v.v… Cũng thời đó vẫn có những văn bản viết theo cách thứ hai, đó là một số sách Phong thổ ký, các văn thơ gia phả trong dòng họ Nguyễn Tiên Điền, kể cả thơ chữ Hán Nguyễn Du. Từ triều Nguyễn về sau, hầu như người ta đều viết theo cách thứ hai. Có lẽ chuyển dịch theo cách đó là hợp lý hơn cả. Chỉ cần một chữ mà đủ chứa cả 3 nghĩa: vừa gần đồng âm với Hống, vừa là núi Lớn, vừa biểu thị truyền thuyết về một trăm chim Hồng.      Cũng như thế, Rum được chuyển dịch thành Lam. Lam vừa gần đồng âm với Rum, vừa biểu thị màu xanh chàm của sông nước.

              Tên Nôm có trước và có từ xa xưa, điều đó dễ hiểu. Nhưng tên Hồng Lĩnh, Lam Giang có từ bao giờ?. Hồng Lĩnh sơn cao/ Song Ngư hải khoát/ Nhược ngộ minh thời/ Nhân tài tú phát. Hồng Lĩnh núi cao, sông Ngư biển rộng, nếu gặp thời buổi minh thịnh, thì nhân tài xuất hiện nhiều. Câu thơ còn mang ít nhiều bóng dáng phong thủy. Nguyễn Thiếp nói, đó là câu thơ có từ đời xưa và có trích dẫn câu đó trong tập Hạnh Am thi cảo của ông. Nhưng “đời xưa” là ở thời điểm nào? Điều ta muốn biết thì không thấy ông nói.

     Thời Trần, cặp núi sông đối xứng này được xuất hiện trong bài thơ Sơn hành – đi chơi núi, của Phạm Sư Mạnh: Hương Tượng phong cao môn Bắc Đầu/     Đồng Long hải khoát hộ nam chinh (Ngọn Hương Tượng cao chạm đến sao Bắc Đẩu/ Cửa bể Đồng Long rộng, giúp cho cuộc  nam chinh). Hương Tượng, theo Thiên Lộc huyện phong thổ chí  và sau đó là Đại Nam nhất thống chí đều xác định Hương là Hương Tích, Tượng là Thiên Tượng. Hai ngọn núi tiêu biểu trong dãy núi Hồng. Sách Đại Nam nhất thống chí dẫn sách An Nam chí nói: “núi Hương Tượng ở địa phận thuộc huyện Phi Lộc, núi rất cao lớn”. Phi Lộc nay là huyện Can Lộc, giải thích như vậy là chính xác.

              Đồng Long là Cửa Hội hay Cửa Sót? Vấn đề này còn có ý kiến khác nhau. Chữ Đồng, chép theo Việt âm thi tập: Đồng = một loại kim loại. Sách Thiên Lộc huyện phong thổ chí chép: Đồng = Tuổi trẻ. Chữ đồng là trẻ này liên quan đến Chử Đồng Tử với Tiên Dung trong truyền thuyết Quỳnh Viên trên núi Nam Giới (13). Long, được giải thích là tên núi Long Ngâm, một tên khác của núi Nam Giới. Có thể vì thế có ý kiến cho rằng Đồng Long là Cửa Sót. Thơ văn Lý – Trần (Tập 2) chép bài thơ này từ Việt âm thi tập và chú thích Đồng Long, “phải chăng là tên một cửa biển thuộc tỉnh Nghệ Tĩnh”. Nếu cho rằng Đồng Long là cửa sông Thanh Long, tức Cửa Hội, xác định như vậy cũng có lý của nó, bởi lẽ Đồng, chữ Hán chép trong Việt âm thi tập là sách soạn từ triều Lê, tương ứng với Đồng Trụ = Cột đồng, một tên cổ của núi Thành. Núi Thành còn là tên cổ là núi Rum. Đoạn sông đi qua đó mang tên sông Rum. Phải chăng tên sông Lam ngày nay được hình thành từ đó? Long là Thanh Long, chỉ tên sông Lam đoạn giáp khúc sông Đồng Trụ qua núi Quyết ra đến Cửa Hội. Hai đoạn sông này, có thời kỳ gọi là sông Thanh Châu, vì kiêng tên húy Trịnh Giang.

              Như vậy, câu thơ đã cho biết thêm hai chi tiết – một là cách gọi tên Núi Hồng sông Rum thời đó. Hai là, bấy giờ, cặp núi sông này đã được coi như tiêu biểu cho vùng đất Châu Hoan.

              Dưới thời Minh Mệnh, cặp núi sông này, một lần nữa được ghi nhận là núi sông danh thắng, lần lượt được khắc hình tượng vào đỉnh thờ của cả đất nước.

              Từ khi thực dân Pháp bắt đầu sang xâm lược, nhất là trong phong trào Văn Thân, Cần Vương yêu nước và các cuộc khởi nghĩa, vận động cách mạng tiếp nối, trong văn thơ, biểu tượng núi Hồng sông Lam đã được chuyển đổi hẳn sang một hình thức diễn đạt mới. Từ hai câu thành hai vế đối như trên, đến thời kỳ này, hầu như đã chuyển thành một vế đối, để rồi đi đến hòa nhập chỉ còn một liên từ chỉ địa danh hoàn chỉnh. Chúng ta đã gặp không ít những định từ đó được xếp thành một vế đối:

    Xướng nghĩa tiếng đầu, đây Nghệ Tĩnh

                       Giúp vua tiết lớn, có Hồng Lam

                                                              (Trích dịch câu đối điếu Lê Ninh)

    Tinh anh Châu Mặc

                                 Phong tuyết Lam Hồng

                                                             (Trích câu đối điếu Phan Đình Phùng)

    Vân Lĩnh, Hoành Sơn cao thế ấy

                                 Hồng Sơn, Lam Thủy lớn dường bao

                                            (Trích câu đối Trần Quý Cáp điếu Phan Bội Châu)

              Trong phong trào Xô-viết Nghệ Tĩnh, tiếp nối vẫn còn những câu thơ đối như thế: Cả, Sâu, Phố hợp ba nguồn lại/      Tượng, Lạp, Lân ngang một dải chung/ Sông nọ quanh quanh rồng uốn khúc/ Núi kia chơm chớm phượng dương mồng (Phan Khắc Thành – Nghi Xuân), Nhớ trăng in bóng dòng sông Cả/       Nhớ gió lùa mây đỉnh núi Hồng… (Nguyễn Tiềm – Thơ ca Xô Viết Nghệ -Tĩnh).Nhưng hầu hết trong thơ ca hồi này, chúng ta đều thấy khá nhiều những từ ngữ: đất Lam Hồng, người Hồng Lam, trai gái Lam Hồng, khí phách Hồng Lam…

    (…) Vùng đất Hồng – Lam qua bao thời đại biến thiên, mặc dù khi là một phủ, một trấn, khi là hai lộ, hai tỉnh, vẫn là một dải đất gắn bó truyền thống về tất cả các mặt địa lý, lịch sử, kinh tế, văn hóa, phong tục, ngữ ngôn… Là vùng lắm cảnh nhiều thơ, các nhà thơ danh tiếng qua các thế hệ, không nhiều thì ít hầu như đều đã có viết về vùng đất này. Những từ ngữ mà các nhà thơ lớp trước đã dùng để nói phong thổ, con người ở đây như hùng trấn, thắng địa, bách xuyên tôn, nhất lộ hùng, đất đứng chân, người trung nghĩa… cho phép ta nghĩ tới những gì rộng lớn hơn nhiều, chứ không chỉ đơn thuần cảnh đẹp – Ít một vùng nào giữ một vai trò to lớn đặc biệt như ở lưu vực sông Lam;…làm sống lại dĩ vãng của lưu vực này là một chứng minh có ý nghĩa đối với những ai đã từng nghiên cứu thông thạo lịch sử… (H. Le Breton, An Tĩnh xưa).

              

              Những di tích thắng cảnh đó, từ sau cách mạng tháng 8, có những mặt đã được giữ gìn tôn tạo, mở rộng nâng cao hơn hẳn ngày xưa. Nhưng khá nhiều mặt đã bị tàn phá hủy hoại, hư hỏng mất mát đến mức nhức nhói đau lòng. Ít có nơi nào như vùng đất ta, binh hỏa triền miên trong nhiều thế hệ, thiên tai bão lụt hình như không năm nào tránh khỏi; thêm nữa, hậu quả của mọi biểu hiện ấu trĩ, những kém cỏi về hiểu biết, tình trạng vô trách nhiệm “nhiều sãi

    không ai đóng cửa chùa”…; tất cả cái đó đã gây ra tai hại không nhỏ.

              Chính vì vậy, còn lại những gì của di tích thắng cảnh càng quý vô cùng, càng phải chăm lo bảo vệ trên cơ sở kế thừa chọn lọc mà ra sức tôn tạo, khai thác thật tốt.

              Xúc tiến điều tra một cách cơ bản, phân loại lập danh mục quy định trách nhiệm, phân cấp quản lý bảo vệ nghiêm nghặt là những công việc đặt ra hết sức cấp bách. Đây là trách nhiệm của thế hệ hiện thời trước lịch sử quê hương, đất nước và cả đối với muôn đời con cháu

    Hơi dài thôi thông cảm nhé  ^_^ 

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )