Môn Văn Lớp: 6 Dựa vào bài “Vượt thác” (Võ Quảng), hãy lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả con sông Thu Bồn.

Question

Môn Văn Lớp: 6 Giúp em bài này với ạ: Dựa vào bài “Vượt thác” (Võ Quảng), hãy lập dàn ý chi tiết cho bài văn tả con sông Thu Bồn. No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
2 tuần 2022-01-04T01:11:53+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Vượt thác đã đưa bạn đọc cùng với hành trình của con thuyền do lương Hương Thư chỉ huy, từ vùng đồng bằng trù phú, vượt qua những thác ghềnh ở vùng núi để tới thượng nguồn lấy gô vồ đựng trường học cho làng Hoà Phước sau Cách mạng 1945 thành công.

    Vượt thác là bức tranh thiên nhiên trên dòng sông Thu Bồn. Bức tranh đó được miêu tả có sự thay đổi theo từng chặng đường của con thuyền, theo điểm nhìn của tác giả. Nhà văn đã chọn vị trí quan sát là ở trên thuyền nên có thể nhìn thấy cảnh quan hai bên bờ cũng như dòng nước trên sông: con thuyền đi đến đâu thì cảnh vật hiện ra đến đấy. Có thể nói đó là một vị trí quan sát thích hợp nhất để tả cảnh. Tác giả đã tìm ra được những nét tiêu biểu, đặc trưng của từng vùng con thuyền đã đi qua: vùng đồng bằng êm đềm thơ mộng, trù phú bao la với những bãi dâu trải ra bạt ngàn đến lau những làng xa tít; đoạn sông có nhiều thác dữ thì từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi rắn. Khi con thuyền vượt qua thác dữ thì nhiều lớp núi, đồng ruộng lại mở ra.

    Ở đây, cảnh vật được nhân hóa, so sánh khiến cho bức tranh thiên nhiên sông nước có hồn, sinh động và gợi cảm. Con thuyền như đang nhớ núi rừng phải lướt cho nhanh để về cho kịp… Nước từ trên cao phóng giữa hai vách đá dựng đứng chảy đứt đuôi lùn… Rồi thuyền vượt qua khỏi thác cổ Cò. Dòng sông cứ chảy quanh co dọc những núi cao sừng sững. Nhưng hàm chứa nhiều ý nghía là hình ảnh những cây cố thụ trên bờ sông mà tác giả đã miêu tả đến hai lần ở đoạn đầu và cuối bài văn. Khi con thuyền đã qua đoạn sông êm ả, sắp đến chỗ có nhiều thác dữ thì dọc bờ sông hiện ra những chòm cổ thụ dáng mãnh liệt đứng trầm ngâm lặng nhìn xuống nước như là cảnh báo con người: phía trước là khúc sông có nhiều thác dữ, cần phải chuẩn bị tinh thần để vượt qua. Đến khi con thuyền vượt qua nhiều thác dữ thì dọc dãy núi lại hiện ra Những cây to mọc giữa những bui lúp xúp nom xa như những cụ già vung tay hô con cháu. Một hình ảnh so sánh đầy sức sáng tạo nhưng vẫn không mất đi độ chính xác và gợi cảm. Trong cách nhìn của người vượt thác, những cây to so với những cây thấp nhỏ lại giống như những cụ già đang hướng về phía con cháu họ mà động viên, thúc giục họ tiến về phía trước. Ân sau cách nhìn ấy là tâm trạng phấn chấn của những con người vừa vượt qua nhiều khó khăn, nguy hiểm.

    Điều đặc sắc hơn là những cây cổ thụ đều được ví với người để biểu hiện thêm những tầng nghĩa mới. Song điều đặc biệt ở đây là mỗi hình ảnh so sánh đều có nét riêng độc đáo không gây sự nhàm chán. Cho nên, nếu hình ảnh ở đoạn cuối văn bản là một hình ảnh so sánh rõ ràng (có từ so sánh “như”) thì hình ảnh ở đoạn trước (đầu văn bản) là’một sự so sánh kín đáo, được thể hiện bằng một cách nhân hoà (qua cái dáng đứng trầm ngâm lặng nhìn – đặc điểm chỉ có ở con người để miêu tả cho những chòm cổ thụ). Tạo được những hình ảnh giàu sức biểu hiện như vậy là một thành công của Võ Quảng.

    Khung cảnh thiên nhiên dù có đẹp đến đâu cũng chỉ là một cái nền để tôn vẻ đẹp của con người bởi con người bao giờ cũng là trung tâm của cảnh. Đó là chú Hai, và tiêu biểu nhất, đẹp nhất là dượng Hương Thư ở cảnh vượt thác dữ. Nhà văn đã đặc tả nhân vật này với những chi tiết đầy ấn tượng thể hiện một quyết tâm lớn để chiến thắng hoàn cảnh. Dượng Hương Thư như một pho tượng đồng đúc, các bắp thịt cuồn cuộn, hai hàm răng cắn chặt, quai hàm bạnh ra, cặp mắt nảy lửa ghì trên ngọn sào, giống như một hiệp sĩ của Trường sơn oai. linh hùng vĩ. Biện pháp so sánh được sử dụng nối nhau liên tiếp trong đoạn đã khắc hoạ vẻ đẹp rắn chắc, dũng mãnh của nhân vật, biểu thị sức mạnh, sự cố gắng hết sức tập trung tất cả tinh thần và nghị lực để chiến đấu với dòng thác. Người đọc ngỡ như hình ảnh huyền thoại anh hùng xưa với tầm vóc phi thường của những Đam San, Xinh Nhã băng xương, bằng thịt đang hiển hiện ra trước mắt. Phải chăng thông qua nghệ thuật so sánh tài tình nhà văn làm nỗi bật lên nhân vật tôn vinh hình tượng con người trước thiên nhiên rộng lớn.

    Lại một so sánh tưởng chừng như lạc lõng: Dượng Hương Thư đang vượt thác khác hẳn dượng Hương Thư ở nhà, nói năng nhỏ nhọ, tính nết nhu mì, ai gọi củng vâng vâng dạ dạ, thực chất đã mang lại hiệu quả bất ngờ. Nó không những chỉ đối lập và thống nhất hai tư thế, hai hình ảnh khác nhau của cùng một con người mà còn hé mở cho người đọc biết thêm những phẩm chất đáng quí của người lao động: khiêm tốn, nhu mì đến nhút nhát trong cuộc sống đời thường, nhưng lại dũng mãnh, nhanh nhẹn, quyết liệt trong công việc, trong khó khăn thử thách.

    Đoạn văn là sự thống nhất cao độ và thành công tột bậc giữa tả thiên nhiên và tả người, tả chân dung con người trong hoạt động, giữa kể và tả với hai biện pháp nghệ thuật phổ biến: nhân hoà và so sánh.

    Võ Quảng đã thành công trong việc thế hiện chủ đề của bài văn qua cảnh vượt thác của dượng Hương Thư, chú Hai và thằng Cù Lao. Nhà văn ca ngợi cảnh thiên nhiên miền trung đẹp, hùng vĩ, ca ngợi con người lao động Việt nam hào hùng mà khiêm nhường, giản dị.

  2. Bắt nguồn từ đỉnh núi Ngọc Linh cao 2598 mét, ban đầu Thu Bồn chỉ là dòng sông nhỏ âm thầm chảy qua các ghềnh đá cheo leo trên vùng núi phía tây nam của tỉnh Quảng Nam. Nhờ tăng thêm lưu lượng từ sông Tiên, sông Tranh trên địa hạt Trà My và Tiên Phước, sông Thu Bồn vượt qua bao đồi núi đưa phù sa bồi đắp cho vùng Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên.

    Từ đại ngàn Trường Sơn, trước khi đổ về biển lớn, con sông Thu Bồn không chỉ bồi đắp cho mảnh đất xứ Quảng chất đất phù sa màu mỡ mà còn góp phần tạo dựng nên nhiều dấu ấn văn hóa rực rỡ, trong đó có Di sản Văn hóa Thế giới Thánh địa Mỹ Sơn và phố cổ Hội An.

    Con sông Thu Bồn khởi nguyên từ những dòng suối nhỏ chảy qua các cánh rừng nức mùi hương quế và loài sâm quý Ngọc Linh trên đỉnh núi Ngọc Linh cao hơn 2.500m nằm giữa đại ngàn Trường Sơn, thuộc địa phận huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Từ đó cho đến địa bàn các huyện Tiên Phước, Hiệp Đức, con sông mang một cái tên quê mùa, dân dã: sông Tranh. Phải đến địa bàn huyện Quế Sơn và Duy Xuyên, khi hợp lưu với sông Vu Gia, nó mới trở thành một dòng sông chững chạc với danh xưng: Thu Bồn.

    Sông Thu Bồn có lưu vực lớn nhất tỉnh Quảng Nam với diện tích trên 10 nghìn km2

    Từ thuở xa xưa, người Chăm, một trong những thành viên của cộng đồng dân tộc Việt đã từng sinh sống và chịu ảnh hưởng rất lớn của nền văn hóa sóng nước sông Thu Bồn. Và chứng tích huy hoàng ngày ấy mà nay chúng ta vẫn còn may mắn được chứng kiến, đó là tuyệt tác Di sản Văn hóa Thế giới Thánh địa Mỹ Sơn trên địa bàn huyện Duy Xuyên.

    Đến với Thánh địa Mỹ Sơn hôm nay, con người như được quay trở về với một thời kì hoàng kim và lộng lẫy. Ở đó có quang cảnh của những ngày thánh lễ với hàng đoàn voi ngựa, với những chiếc kiệu vàng lấp lánh ánh hào quang và những đoàn vũ nữ Apsara rực rỡ xiêm y đang múa lượn theo những điệu nhạc của thần linh bên chân tháp cổ.

    Hối hả xuôi về biển cả, trước khi đổ ra đại dương, con sông Thu Bồn còn kịp dừng chân kiến tạo để lại cho đời sau một trong những cảng thị và đô thị cổ đẹp nhất Việt Nam mà hiện nay vẫn còn, đó là Di sản Văn hóa Thế giới phố cổ Hội An. Ngày nay, phố cổ Hội An cùng với làng rau Trà Quế, làng gốm cổ Thanh Hà, Cửa Đại… hợp thành một quần thể du lịch độc đáo dọc theo sông Thu Bồn.

    Trên hành trình xuôi ra biển của mình, con sông Thu Bồn chở nặng phù sa còn để lại cho đời những cánh đồng màu mỡ để con người đến khai phá, dựng bản, dựng làng. Có lẽ vì thế mà từ bao đời nay, cư dân sinh sống trên những vùng đất phù sa màu mỡ ở Duy Xuyên, Điện Bàn, Hội An (Quảng Nam) vẫn tôn thờ sông Thu Bồn là “sông Mẹ”.

    Sông Mẹ” Thu Bồn không những ban phát cho dân chài tôm cá đầy ắp, mà còn giúp cư dân của nhiều làng nghề nức tiếng như làng trầm Nông Sơn, làng dệt vải Tằm Tang (Duy Xuyên), làng gốm Thanh Hà (Hội An), đưa những sản phẩm nổi tiếng của mình xuôi theo dòng sông qua thương cảng Hội An đến với bạn bè thế giới từ thời thế kỉ XVII.

    Vào tháng 3 hàng năm, cư dân vùng Duy Xuyên lại tổ chức Lễ hội bà Thu Bồn để tưởng nhớ “sông Mẹ” đã ban phát cho họ nghề cày cấy và nghề nuôi tằm dệt vải. Vào ngày ấy, dân làng ra sông rước “Mẹ Thu Bồn” đến với từng nhà như khẳng định một ý niệm đầy tính nhân văn, đó là “sông Mẹ” đã hiện hữu và đến từng nhà cư dân đôi bờ để ban phát mùa màng và sự ấm no.

    “Sông mẹ” Thu Bồn ra đến Cửa Đại tạo nên một cảnh quang vừa mênh mông hùng vĩ, vừa nên thơ sâu lắng với cảnh sóng nước mênh mang và những làng chài, những chiếc vó bè rực vàng trong ánh hoàng hôn… Trước khi về với biển, “sông Mẹ” Thu Bồn chồm lên thành những ngọn sóng kiêu hãnh đỏ nặng phù sa để sẵn sàng hòa mình vào biển lớn. Và kể từ đây, “Mẹ Thu Bồn” đã hoàn thành xứ mệnh chở phù sa bồi đắp cho ruộng đồng và văn hóa của người xứ Quảng.

    Dẫu đã hòa tan vào biển cả nhưng “sông Mẹ” vẫn muôn đời còn mãi trong chuyện kể của cư dân đôi bờ và vẫn đang viết tiếp những câu chuyện mới về cuộc sống của ngày hôm nay. Vì thế, chuyện kể về “Mẹ Thu Bồn” vẫn cứ dài mãi, dài hơn cả chặng đường từ đại ngàn Trường Sơn về biển cả mà dòng sông đã nhọc nhằn và kiêu hãnh đi qua.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )