Môn Văn Lớp: 11 Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Tú Xương Cả dàn ý lần bài làm nhé. Mình sẽ báo lỗi những bài sao chép

Question

Môn Văn Lớp: 11 Giúp em bài này với ạ: Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương của Tú Xương
Cả dàn ý lần bài làm nhé. Mình sẽ báo lỗi những bài sao chép No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Josephine 2 tháng 2022-02-28T23:21:16+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Nhà thơ Tú Xương được sinh ra và lớn lên trong giai đoạn được coi là bi thương nhất của đất nước ta bấy giờ, khi mà nước ta bị thực dân Pháp đàn áp và thống trị. Trước cảnh đất nước bị tù đày, đau khổ ấy, thơ của ông đã vẽ nên một bức tranh phơi bày hiện thực xã hội, bày tỏ lòng xót xa của một người con yêu nước. Đồng thời tố cáo tội ác man rợ của bọn thực dân Pháp cùng tay sai của chúng. Bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” là một bài thơ tiêu biểu trong những tác phẩm như thế.

    Đầu tiên, tác giả đã giới thiệu với người đọc về kì thi Hương năm ấy:

    “Nhà nước ta ba năm mở một khoa

    Trường Nam thi lẫn với trường Hà”

    Kì thi này diễn ra theo thường lệ ba năm một lần, chỉ khác là kì thi năm nay các thi sinh của trường ở Hà Nội cũng bị dồn hết về trường Nam Định thi. Từ “lẫn” mà tác giả khéo léo sử dụng ở đây đã làm rõ được tình trạng hỗn loạn, bát nháo và tạp nham của kì thi Hương năm ấy.

    “Lôi thôi sĩ tử vai đeo lọ,

    Ặm ọe quan trường miệng thét loa.”

    Tác giả đặt từ “lôi thôi” lên đầu câu nhằm muốn nhấn mạnh chính hiện thực lôi thôi, lếch thếch, không có chút gọn gàng của các “sĩ tử”. Vốn người sĩ tử là người chăm đèn sách, học vị hơn người phải giữ sự gọn gàng chỉn chu, vậy mà nay hình ảnh ấy đâu còn, các thí sinh đi thi với bộ dạng xộc xệch, chai lọ lỉnh kỉnh, chẳng còn thấy vẻ tao nhã của người đèn sách. Hình ảnh các sĩ tử trong kì thi Hương năm ấy đã phần nào phản ánh sự xuống cấp của toàn xã hội Việt Nam bấy giờ. Không những thí sinh mất đi vẻ nho nhã mà những người giám khảo cũng mất đi vẻ nghiêm túc, đáng kính như trước, ăn nói thì “ậm ọe”, “thét loa” như những người ngoài đường ngoài chợ. Những từ ngữ ấy được Tú Xương nhấn mạnh nhằm làm nổi bật sự bất tài vô dụng của đám quan trông trường thi, chúng chỉ còn là những kẻ vênh váo, hung hăng, dựa dẫm vào cái danh không thực của mình. Toàn cảnh trường thi Hương ở Nam Định năm ấy thật đáng buồn và đáng cười thay, nhốn nháo cả người đi thi và người trông thi, không đúng nghĩa và xứng tầm với một kì thi trọng đại của đất nước. Trong khung cảnh hỗn loạn, tạp nham ấy đã xuất hiện hai nhân vật “quan trọng” một cách hoành tráng:

    “Lọng cắm rợp trời quan xứ đến

    Váy lê quét đất mụ đầm ra”

    Và đó chính là hình ảnh của vợ chồng toàn quyền Pháp và vợ chồng tôn công sứ Nam Định đến dự. Đang trong kì thi với không khí trường thi căng thẳng ấy vậy mà quan sứ và vợ vẫn được đón tiếp long trọng, lọng che cắm rợp trời, mưa không đến mặt nắng không tới đầu. Quả thực là một thực trạng đau lòng của đất nước ta, kẻ thù – kẻ xâm lược mà lại được đón tiếp nồng hậu, trịnh trọng, đưa lên vị trí cao nhất, xã hội ấy đã xuống cấp trầm trọng, chế độ thực dân đã nắm quyền, xã hội phong kiến chì là bù nhìn. Nhà thơ Tú Xương có thể gọi “quan sứ” vẫn còn trang trọng lắm, nhưng với vợ ông thì lại gọi là “mụ đầm”, một cách gọi khinh rẻ và thô tục, như một câu chửi sắc bén. Tuy có giọng điệu châm biếm ở đây nhưng ẩn sâu trong đó là nỗi đau xót, căm hận của một người con yêu nước phải chứng kiến cảnh nước mất nhà tan mà không làm được gì. Nhà thơ đã phải thốt lên rằng:

    “Nhân tài đất bắc nào ai đó,

    Ngoảnh cổ mà trông cảnh nước nhà.”

    Câu thơ vừa là lời nhắn với chính bản thân tác giả, vừa nhắn tới những người đồng cảnh ngộ. Không biết trong xã hội đã thốt nát kia còn có mấy người nghĩ đến nỗi nhục nhã khi nước mất nhà tan mà đứng lên hành động, và cũng không thể biết được ngoài kai còn bao nhiêu người vẫn tin và nhà nước, tin vào chính quyền mà không sáng mắt nhìn thực thế.

    Có thể thấy, bài thơ “Vịnh khoa thi Hương” của Tú Xương có sự kết hợp giữa hiện thực và trữ tình, từ một kì thi Hương bị tha hóa, biến chất, nhà thơ đã mở rộng ra hình ảnh đất nước bị tù đày, đàn áp bởi thực dân và phong kiến. Nhà thơ cũng bày tỏ nỗi lòng của mình cũng như những người cùng cảnh ngộ về nỗi đau mất nước, sự bất lực của những người trí thức yêu nước.

  2. DÀN Ý THAM KHẢO

    Phân tích bài thơ Vịnh khoa thi Hương

    1. Mở bài:

    – Giới thiệu khái quát về nhà thơ Trần Tế Xương (hay còn gọi là Tú Xương): là một nhà thơ tài hoa, nổi tiếng với nhiều bài thơ tròa phúng châm biếm đặc sắc.

    – Giới thiệu khái quát bài thơ Vịnh khoa thi Hương.

    2. Thân bài:

    a. Hai câu đề

    – Nói về sự kiện: theo lệ thường thời phong kiến cứ ba năm có một khoa thi Hương => Sự kiện tưởng như không có gì đặc biệt, chỉ có tính chất như một thông báo một thông tin bình thường.

    – Sử dụng từ “lẫn”: thể hiện sự ô hợp, hỗn tạp của kì thi này. Đây chính là điều bất thường của kì thi.

    => Hai câu đề với kiểu câu tự sự có tính chất kể lại kì thi với tất cả sự ô hợp, hỗn tạp, thiếu nghiêm túc trong buổi giao thời.

    b. Hai câu thực

    – Hình ảnh:

    + Sĩ tử: lôi thôi, vai đeo lọ -> dáng vẻ luộm thuộm, nhếch nhác.

    + Quan trường: ậm ọe, miệng thét loa -> ra oai, nạt nộ nhưng đó là cái oai cố tạo, giả vờ.

    – Nghệ thuật:

    + Sử dụng từ láy tượng thanh và tượng hình: ậm ọe, lôi thôi.

    + Đối: lôi thôi sĩ tử >< ậm ọe quan trường.

    + Đảo ngữ: Đảo trật tự cú pháp “lôi thôi sĩ tử”, “ậm ọe quan trường”.

    => Sự láo nháo, lộn xộn, ô hợp của trường thi, mặc dù đây là một kì thi Hương quan trong của nhà nước.

    => Cảnh trường thi phản ánh sự suy vong của một nền học vấn, sự lỗi thời của đạo Nho.

    c. Hai câu luận

    – Hình ảnh:

    + Quan sứ: Viên quan người Pháp đứng đầu bộ máy cái trị của tỉnh Nam Định được tiếp đón trọng thể.

    + Mụ đầm: vợ quan sứ, ăn mặc diêm dúa, điệu đà.

    => Sự phô trương, hình thức, không đúng nghi lễ của một kì thi.

    + Nghệ thuật đối: Lọng >< váy, trời >< đất, quan sứ >< mụ đầm → Thái độ mỉa mai, châm biếm hạ nhục bọn quan lại, thực dân.

    => Tất cả báo hiệu về một sự sa sút về chất lượng thi cử, bản chất của xã hội thực dân phong kiến.

    d. Hai câu kết

    – Tâm trạng thái độ của tác giả trước cảnh tượng trường thi: Ngao ngán, xót xa trước sự sa sút của đất nước. Thái độ mỉa mai, phẫn uất của nhà thơ với chế độ thi cử đương thời và đối với con đường khoa cử của riêng ông.

    – Hai câu cuối như một lời nhắn nhủ các sĩ tử về nỗi nhục mất nước. Nhà thơ hỏi người nhưng cũng chính là hỏi mình.

    3, Kết bài:

    Cảm nhận chung về bài thơ.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )