Môn Văn Lớp: 11 Có ý kiến cho rằng ” văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu” là tiếng khóc bi tráng cho 1 thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại

Question

Môn Văn Lớp: 11 Giúp em bài này với ạ: Có ý kiến cho rằng ” văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” của Nguyễn Đình Chiểu” là tiếng khóc bi tráng cho 1 thời kì lịch sử đau thương nhưng vĩ đại của dân tộc, là bức tượng đài bất tử về những người nông dân Nghĩa Cần giuộc đã dũng cảm chiến đấu, hy sinh về tổ quốc. Bằng sự hiểu biết của mình, anh chị hãy phân tích bài thơ văn nghĩa sĩ cần giuộc của NĐC để làm rõ nhận định trên
No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Reagan 3 tháng 2022-02-16T07:11:51+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. **Bạn tham khảo dàn ý này nhé

    A. Mở bài

    – Vài nét về Nguyễn Đình Chiểu và tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc:

    – Khái quát chung về hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong tác phẩm.

    – Dẫn dắt vấn đề

    B. Thân bài

    1. Nguồn gốc xuất thân của những người nông dân nghĩa sĩ

    – Từ nông dân nghèo khổ, những dân ấp, dân lân.

    + “cui cút làm ăn;

    + “toan lo nghèo khó”

    ➨ Những người nông dân nghĩa sĩ họ chỉ là những người nghèo khó và lương thiện, chính hoàn cảnh đã buộc họ phải đứng lên trở thành những người chiến sĩ và cuối cùng là “nghĩa sĩ”

    2. Người nông dân nghĩa sĩ hiện lên với lòng yêu nước nồng nàn

    – Vốn là những người nông dân nghèo khó không biết đến việc binh đao, họ lo sợ.

    – Sự chờ đợi “quan”.

    – “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”, “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”

    ➨ Diễn biến tâm trạng người nông dân, sự chuyển hóa phi thường trong thái độ, chính lòng yêu nước và niềm căm thù giặc, cộng với sự thờ ơ thiếu trách nhiệm của “quan” đã khiến họ tự giác ,tự nguyện đứng lên chiến đấu.

    3. Người nông dân nghĩa sĩ cao đẹp bởi tinh thần chiến đấu hi sinh của người nông dân

    – Tinh thần chiến đấu tuyệt vời.

    – Quân trang rất thô sơ

    – Lập được những chiến công đáng tự hào

    – Sự hi sinh

    C. Kết bài

    – Đánh giá chung

    – Suy nghĩ của bản thân

     

    * Bài viết tham khảo

    Nguyễn Đình Chiểu – nhà nho yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc. Cuộc đời ông phải trải qua nhiều bi kịch đau khổ và bất hạnh. Có lẽ vì vậy mà hơn ai hết ông càng cảm nhận được nỗi đau mất nước khi thực dân Pháp sang xâm lược nước ta. Cần Giuộc chẳng mấy chốc đã bị giặc Pháp tràn đến. Những người nông dân áo vải, chân lấm, tay bùn đả đứng dậy đấu tranh. Họ gia nhập nghĩa binh, sẵn sàng hi sinh vì nghĩa lớn. Trong số họ nhiều nghĩa sĩ đã hi sinh oanh liệt. Những tấm gương hi sinh đó đã gây nên niềm cảm kích lớn trong nhân dân. Đỗ Quang, tuần phủ Gia Định giao cho Nguyễn Đình Chiểu làm bài văn tế đọc tại buổi truy điệu hơn hai mươi nghĩa sĩ đã hi sinh trong trận đêm ngày 16-12-1861. Với lòng cảm phục và tình cảm xót thương vô hạn, Nguyễn Đình Chiểu đã viết bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Bài văn tế không những thể hiện được tình cảm xót thương vô hạn của tác giả và của nhân dân đối với các nghĩa sĩ Cần Giuộc khắc họa lên vẻ đẹp chân thực, bi tráng mà rất đỗi hào hùng của những người nông dân yêu nước đánh Tây.

    Hỡi ôi!

    Súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ..

     

    Khi Tổ quốc lâm nguy, khắp đất nước đều rền vang tiếng súng. Chính từ gian nguy, đau thương đó, tình yêu đất nước của những người nông dân bình thường mới được thể hiện, vẻ đẹp thực sự của tâm hồn trong họ mới được bày tỏ cùng trời đất.

    Tấm lòng, tình yêu giang sơn, tổ quốc của những người nông dân bình dị càng được thể hiện một cách rõ rệt và sâu sắc hơn khi tác giả đã liên tục dùng biện pháp so sánh đối lập trong các câu văn tiếp sau.

      Nhớ linh xưa:

    Cui cút làm ăn; toan lo nghèo khó,

    Chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung;

    Chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ.

    Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm;

    Tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng

    Trước đây họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ là “cui cút làm ăn”. Họ vẫn sống, vẫn tồn tại nhưng chỉ trong thầm lặng. Họ chỉ quen làm lụng việc nhà nông: cày, bừa, cấy, hái, làm bạn với con trâu, với ruộng đồng. Họ chưa biết đến “cung ngựa”, “trường nhung”, chưa quen với “tập mác, tập cờ”. Những người nghĩa sĩ ở đây chỉ là những nông dân áo vải, chưa quen chiến trận, chưa được luyện rèn, chỉ vì lòng yêu nước đứng lên đánh giặc.

    Khi mà “tiếng phong hạc phập phồng hơn mươi tháng”, họ ngóng trông mệnh lệnh của triều đình: “trông tin quan như trời hạn trồng mưa”.

    Thì ra cái bi kịch xót xa là ở chỗ này: triều đình nhu nhược, không hiểu được lòng dân yêu nước. Lòng căm thù giặc của những người nông dân thì không thể kiềm chế:

    Mùi tinh chiên vấy vá đã ba năm, ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ.

    … Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen xì, muốn ra cắn cổ.

    Hình tượng người nông dân, những người nghĩa sĩ yêu nước hiện lên thật quả cảm hào hùng. Lòng yêu đất nước tha thiết xuất phát từ chính trái tim của họ đã khiến cho họ trở nên đẹp đẽ, lấp lánh.

    Vẻ đẹp của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước được toát ra chính lòng căm thù giặc sục sôi. Chính lòng căm thù giặc đã biến thành hành động vùng lên quật khởi rất hào hùng.

    Trong những tác phẩm phản đối chiến tranh phong kiến phi nghĩa trước đây, người nông dân khi phải đi làm lính biên thú phương xa để bảo vệ cương thổ của nhà vua, họ ra đi với tâm trạng và thái độ “bước chân xuống thuyền, nước mắt như mưa” thì ở đây, người nông dân của Nguyễn Đình Chiểu lại hoàn toàn khác. Họ tự giác, tự nguyện đứng lên chiến đấu để bảo vệ giang sơn, tổ quốc, ấy là nét đẹp bản chất nhất trong hành động của người nông dân – nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đến đây không chỉ vẻ đẹp trong tâm hồn mà ngay cả vẻ đẹp trong hành động của những người nghĩa sĩ nông dân yêu nước cũng đã được Nguyễn Đình Chiểu khắc họa lên một cách rõ rệt. Từ cái động lực tinh thần tự nguyện gánh vác trách nhiệm lịch sử mà đã tạo ra cho họ sức mạnh vô cùng lớn. Họ đã hành động, đứng lên chống giặc ngoại xâm. Không chờ bày bố mà chỉ “ngoài cật có một manh áo vải nào đợi mang bao tấu, bầu ngòi, trong tay cầm một ngọn tầm vông, chi nài sắm dao tu, nón gõ”. Hình ảnh người nông dân được hiện lên trong tác phẩm khiến cho chúng ta vừa cảm thấy tự hào và xen lẫn niềm xót xa. Những người nghĩa sĩ dường như đóng vai trò là hiện thân của cả một sức mạnh dân tộc. Đối mặt với kẻ thù lớn mạnh với ” đạn nhỏ, đạn to”, “táu thiếc, tàu đồng” với đội quân xâm lược nhà nghề, vậy mà vũ khí để họ dùng chống lại chỉ là “một manh áo vải”, “một ngọn tầm vông”, chỉ có ” dao phay” và chỉ là những “hỏa mai đánh bàng rơm con cúi”. Thử hỏi rằng đem những thứ đó ra đối chọi với súng đạn của thực dân khác nào bước chân vào chỗ chết. Cái sự thật phũ phàng đó như phô bày ra trước mắt ta thật xót đau biết mấy. Đó là tấn bi kịch của những người nghĩa sĩ cần Giuộc, cũng là tấn bi kịch của cuộc sống nước ta vào thời kì nghiệt ngã ấy. Tấn bi kịch này đã đưa đến cái họa mất nước kéo dài cả thế kỉ.

    Bằng sự ngoan cường, lòng yêu nước nồng nàn, họ đã làm nên được những điều phi thường, chính họ đã cất lên dược bản anh hùng ca chiến tranh của dân tộc. Bất chấp sự hiểm nguy, bất chấp sự chênh lệch, sự đối lập của hoàn cảnh chiến đấu, họ vẫn quyết chiến và quyết thắng, lấy tinh thần xả thân vì nghĩa để bù đắp lại sự thiếu hụt, chênh lệch của mình với kẻ thù. Hoàn cảnh chiến đấu chênh lệch là vậy nhưng vì những người nghĩa sĩ chiến đấu bằng chính tỉnh thần sự quyết chiến không sợ hi sinh nên hiệu quả chiến đấu lại vô cùng lớn.

    Chỉ với những vũ khí thô sơ, nhưng lòng yêu nước, tinh thần dân tộc đã tạo nên được những điều kì diệu. Hình ảnh người nghĩa sĩ nông dân hiện lên với một vẻ đẹp rực rỡ hào quang của chủ nghĩa yêu nước, dường như đã làm lu mờ đi cái thời kì đen tối của lịch sử mất nước hồi nửa cuối thế kỉ XIX.

     

  2. Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ mang một tấm lòng yêu nước sâu nặng. Trong cuộc đời cầm bút của mình, nhà thơ luôn lấy quan niệm đạo đức, tấm lòng vì dân vì nước làm tâm điểm trong sự nghiệp sáng tác của mình. Viết về nhiều đề tài khác nhau, nhưng có lẽ luôn sát cánh và cập nhật nhất vẫn là những vần thơ chống giặc, cổ động tinh thần yêu nước cùng nhân dân. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm tiêu biểu cho những áng văn yêu nước của tác giả, thể hiện một quan niệm, một cách nhìn mới về người anh hùng của nhà thơ trong văn học.

    Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được viết theo thể phú luật Đường, bố cục gồm bốn phần đúng như quy định của thể văn tế. Tác phẩm ra đời đã khẳng định sự thành công trong ngòi bút viết vận tế của Nguyễn Đình Chiểu. Bài văn được ra đời để tưởng nhớ đến các chiến sĩ cần Giuộc đã anh dũng hi sinh trong cuộc chiến đấu chống xâm lược, cổ vũ, khích lệ tinh thần chiến đấu bảo vệ Tổ quốc của nhân dân. Với bài văn tế này, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ. Ở đây là người nông dân nghĩa quân chống giặc, cứu nước.

    Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc là một tượng đài nghệ thuật hiếm có. Bi tráng là tầm vóc và tính chất của tượng đài nghệ thuật ấy: Vừa hoành tráng, hùng tráng vừa thống thiết, bi ai. Thể hiện một quan niệm về người anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu một cách mới lạ mà người đọc chưa từng thấy trong văn học yêu nước giai đoạn trước đó.

    Quan niệm về người anh hùng của Nguyễn Đình Chiểu có gì khác so với các nhà Nho yêu nước xưa? Trước kia, khi xây dựng hình tượng người anh hùng, nhiều nhà văn thường tập trung thể hiện những bậc hào kiệt, những con người kiệt xuất lãnh đạo các phong trào đấu tranh của nhân dân. Còn đến với văn thơ Nguyễn Đình Chiểu hình ảnh về người anh hùng không có gì xa lạ mà ngay trong bản thân nông dân hiền lành, suốt ngày chỉ biết cui cút làm ăn, toan lo nghèo khó. Có thể nói về người anh hùng, tác giả của chúng ta không phải đi tìm kiếm những hình tượng ở đâu xa xôi cả mà đó là những người nông dân chân chất, thật thà có tấm lòng yêu nước sâu nặng. Cái tài của Nguyễn Đình Chiểu là đã phát hiện và xây dựng được hình tượng người anh hùng nông dân áo vải. Đây không phải là một cá nhân cụ thể mà đó là cả tập thể những người anh hùng, họ là những nghĩa sĩ Cần Giuộc.

    Hình ảnh trung tâm của tác phẩm là những chiến sĩ nghĩa quân. Nguồn gốc của họ là nông dân nghèo, suốt cuộc đời lẩn mình sau lũy tre xanh, chất phác, cần cù chịu khó làm ăn chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ. Họ là lớp người chân lấm tay bùn chỉ biết: Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; tập khiên, tập súng, tập mác, tập cờ, mắt chưa từng ngó. Thế nhưng khi đất nước, quê hương bị giặc xâm lược những người dân ấp dân lăn ấy đã anh dũng đứng lên mến nghĩa làm quân chiêu mộ. Đánh giặc để cứu nước nhà, để bảo vệ Bát cơm manh áo ở đời là cái nghĩa lớn mà họ mến và đeo đuổi. Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những câu văn giản dị mà thấm đượm một tinh thần yêu nước cao đẹp.

    Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan; ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.

    Nhà văn đã tái hiện lại một cuộc chiến đấu với sức mạnh quật cường và khí thế chiến đấu anh dũng của các chiến sĩ Cần Giuộc. Quân trang chỉ là một manh áo vải, vũ khí chỉ có một ngọn tầm vông, hoặc một lưỡi dao phay, một súng hỏa mai bằng rơm con cúi. Thế mà họ vẫn lập được chiến công chém rớt đầu quan hai nọ và đốt xong nhà dạy đạo kia. Quả thực, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng nên một tượng đài nghệ thuật về những người anh hùng chiến đấu bất khuất, sẵn sàng hi sinh để bảo vệ Tổ quốc.

    Chi nhọc quan quản gióng trông kì trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không; nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

    Đây là những câu văn tuyệt bút. Không khí chiến trận thật sôi sục trống kỉ, trống giục, đạp rào lướt tới, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có. Các chiến sĩ coi cái chết như không tấn công như vũ bão vào đồn của giặc. Với giọng văn hào hùng, phép đối tài tình, các động tứ mạnh được chọn lọc và đặt đúng chỗ… đã tô đậm tinh thần chiến đấu quả cảm vô song của các nghĩa sĩ Cần Giuộc. Tác giả Nguyễn Đình Chiểu đã dành cho các chiến sĩ nghĩa quân những tình cảm đẹp nhất, ngợi ca, khâm phục tự hào. Qua đó, ta thấy được lần đầu tiên hình tượng người nông dân đi vào thơ văn với tầm đứng của các anh hùng dân tộc, những anh hùng xuất thân từ tầng lớp nóng dân, quanh năm chân lấm tay bùn dường như chỉ biết có việc cày, việc cuốc, vậy mà khi có giặc xâm lược, họ đã anh dũng đứng lên một cách tự nguyện và hăng hái nhất, chiến đấu quên mình cho nền độc lập dân tộc.

    Cái độc đáo ở Nguyễn Đình Chiểu là nhìn thấy được những con người anh hùng ngay bên cạnh mình, đó không phải là các bậc hào kiệt anh tài mà chỉ là những người nông dân sống hiền lành, chăm chỉ làm ăn. Hàng ngày, họ vẫn luôn luôn gần gũi với chúng ta. Xuất phát từ cái nhìn của Nguyễn Đình Chiểu – về người anh hùng nông dân, làm cho người đọc nhận ra rằng những anh hùng, những con người cao cả không phải ở đâu xa mà họ luôn ngay cạnh bên mình. Có thể nói, quan niệm tiến bộ về hình ảnh người nông dân làm cách mạng không phải ai cũng có được mà ta thấy rằng Nguyễn Đình Chiểu là lá cờ đi đầu về quan niệm này.

    Các nghĩa sĩ đã sống anh dũng, chết vẻ vang. Tấm lòng chiến đấu và hi sinh của họ là tấm lòng son gửi lại bóng trăng rằm đời đời bất diệt, sáng rực mãi, trường tồn cùng sông núi. Bài học lớn nhất của người chiến sĩ để lại cho đất nước và nhân dân là bài học về sống và chết. Sống hiên ngang, chết bất khuất. Tâm thế ấy đã tô đậm chất bi tráng “Tượng đài nghệ thuật về người nông dân đánh giặc”. Bài văn tế được đúc kết thành một triết lí, một quan niệm sống của nhân dân ta.

    Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh, muôn kiếp được trả thù kia…

    Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được xem là một áng văn chương xuất sắc cho văn học thời trung đại. Bằng một bút pháp trữ tình kết hợp nhuần nhuyễn với bút pháp hiện thực, bằng ngôn ngữ bình dị, mà tinh tế, bài văn đã tái hiện chân thực và đầy xúc động cả một thời đại đau thương nhưng anh dũng của dân tộc. Tác phẩm là một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người anh hùng nông dân khởi nghĩa, thể hiện sức mạnh bất diệt của dân tộc ta trong chống giặc xâm lược. Bài văn tế là lời ca ngợi, biết ơn của Nguyễn Đình Chiểu về những con người hùng dùng hiên ngang, hình ảnh của họ mãi mãi đi vào tâm trí nhân dân với sự biết ơn và ngưỡng mộ, tự hào.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )