Môn Văn Lớp: 11 Cảm nhận về thiên nhiên qua ba bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu), “Tràng giang” (Huy Cận) và “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử). Gợi ý: 1. Giới thiệ

Question

Môn Văn Lớp: 11 Giúp em bài này với ạ: Cảm nhận về thiên nhiên qua ba bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu), “Tràng giang”
(Huy Cận) và “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử).
Gợi ý:
1. Giới thiệu vấn đề
– Phong trào Thơ Mới (1930 – 1945) đã tái hiện hình ảnh thiên nhiên (TN) đa dạng,
nhiều màu sắc và gợi cảm; thể hiện sự độc đáo trong thế giới nội tâm cũng như phong
cách nghệ thuật của mỗi tác giả
– Hình tượng TN trong ba bài thơ “Vội vàng” (Xuân Diệu), “Tràng giang” (Huy Cận),
“Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử).
2. Hình tượng TN – vẻ đẹp chung
– TN là đề tài, nguồn cảm hứng quen thuộc trong thơ ca từ văn học dân gian đến VH
trung đại và hiện đại đều có những bức tranh TN tuyệt đẹp theo những cách cảm nhận
riêng của mỗi thời, mỗi người, bộc lộ sâu sắc tình yêu quê hương đất nước
Chú ý: Hoc sinh có thể mở rộng ý so sánh
– TN đẹp gần gũi, sống động và hữu tình (Học sinh so sánh thiên nhiên trong VH trung
đại TN ước lệ, quy phạm), một dòng sông, cây đa, bến nước, vườn, đêm trăng xứ
Huế….
– TN được cảm nhận bằng con mắt cá nhân, thấm đẫm cảm xúc của cái Tôi trữ tình,
TN đồng quê trong thơ của Nguyễn Bính, TN mênh mang trong thơ của Huy Cận, TN
rạo rực sức sống trong thơ Xuân Diệu, TN đẹp hư ảo trong thơ Hàn Mặc Tử…
– TN đẹp nhưng phảng phất buồn ( HS có thể lí giải nguyên nhân hoàn cảnh xã hội và
quan niệm thẩm mĩ).
3. Hình tượng TN – vẻ đẹp riêng
a, “Vội vàng”
– TN đẹp, đầy sức sống, đầy xuân sắc và xuân tình, chan chứa cả niềm vui và nỗi buồn
từ những ám ảnh về thời gian .Cõi vườn trần – nơi muôn vật, muôn loài dào dạt trong
trạng thái giao cảm của sự sống và tình yêu – như thiên đường mặt đất.
– TN được cảm nhận bằng con mắt “xanh non, biếc rờn”, cái nhìn tình tứ và quan niệm
lấy con người làm chuẩn mực để so sánh nên mang vẻ đẹp trẻ trung xuân sắc, gợi cảm
và mang dáng dấp của tuổi trẻ, tình yêu và thiếu nữ hết sức quen thuộc mà rất hấp dẫn.
b, “Tràng giang”
-Được gợi tứ từ dòng sông Hồng, hình tượng TN trong “Tràng giang” mênh mông vô
biên và quạnh hiu hoang vắng, mang hình ảnh của cái Tôi như người lữ thứ bơ vơ
trước thời cuộc và trôi dạt trong không gian song vẫn thiết tha với tạo vật và “nỗi nhớ
nhà”
– TN với vẻ đẹp cổ kính, thấm đượm chất Đường thi (thi đề, thi tứ, thi liệu, những thủ
pháp nghệ thuật…)
c, “Đây thôn Vĩ Dạ”
– Cảnh sắc thiên nhiên xứ Huế mộng và thơ là sự giao chuyển nhiều cảnh theo lối bất
định không tuân theo tính liên tục của thời gian và tính duy nhất của không gian từ
cảnh thôn Vĩ tươi tắn trong nắng mai đến cảnh sông nước đêm trăng huyền ảo đến
chốn sương khói mông lung…
– Diện mạo cõi trần gian gửi niềm thiết tha gắn bó của thi sĩ với cuộc sống.
4. Khái quát chung
– Kế thừa tinh hoa văn học dân tộc (có ảnh hưởng thơ Đường), ảnh hưởng thơ tượng
trưng Pháp, ba tác giả đã thoát khỏi hệ thống thi pháp văn học trung đại để cảm nhận
TN đẹp, gợi hình, gợi cảm, với điệu hồn cảm xúc và cách biểu hiện mới mẻ(thể thơ,
ngôn ngữ, nâng cao chất nhạc của thơ ca (nhịp, thanh, vần…) No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Rylee 3 tuần 2022-01-04T03:47:21+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầuNgười buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Thật vậy, từ xưa đến nay, thiên nhiên luôn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thi sĩ và thông qua những bức tranh thiên nhiên để ghi lại dấu ấn cá nhân độc đáo riêng của mỗi người. Dưới mỗi con mắt quan sát tinh tế và sự cảm nhận khác nhau của người nghệ sĩ, thiên nhiên luôn hiện ra với muôn hình dáng vẻ và ẩn chứa những nét tâm trạng riêng của tác giả. Cùng khám phá vẻ đẹp và sự gợi cảm của thiên nhiên qua những vần thơ trong Tràng giang của Huy Cận, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử. Nhắc đến Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử là ta nhắc đến ba hồn thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới những năm 30 của thế kỉ XX. Họ đều là những thi sĩ có cách nhìn thiên nhiên rất độc đáo, mới mẻ, khác biệt và một trái tim nhạy cảm, rung động mãnh liệt trước vẻ đẹp, vẻ gợi cảm của thiên nhiên. Nhưng ẩn chứa kín đáo sau vẻ đẹp và sự gợi cảm ấy là tâm trạng phảng phất nỗi buồn của những trí thức đương thời trước thời cuộc đầy tăm tối. Trước hết, cùng Huy Cận trải lòng mình qua bức tranh thiên nhiên Tràng giang với nét đẹp cổ điển, đầy thi vị: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpCon thuyền xuôi mái nước song songThuyền về nước lại sầu trăm ngảCủi một cành khô lạc mấy dòng Đọc những dòng thơ đầu, ta như mường tượng ra trước mắt khung cảnh sông nước mênh mông, êm đềm, tĩnh lặng với những “sóng gợn”, “con thuyền”,… – thi liệu thường thấy trong thơ văn cổ điển. Từng lớp sóng bạc cứ nối dài, nối dài, lan xa trong không gian tạo nên bức tranh đẹp hùng vĩ, phóng khoáng, vô biên. Thêm một nét chấm phá “củi một cành khô” bồng bềnh trên mặt nước và hình ảnh con thuyền gác mái trôi xuôi lại khiến cho cảnh bình dị, thân thuộc mà cũng thật thơ mộng mang linh hồn của quê hương xứ sở. Nhưng đứng trước khung cảnh như vậy, nhìn những con sóng “buồn điệp điệp”, nhà thơ cũng dâng trào trong lòng nỗi buồn như từng lớp sóng cuộn, triền miên không nguôi, hình ảnh “củi một cành khô” gợi sự lạc lõng, cô độc của tác giả hay cũng chính là của lớp người trí thức đương thời tâm huyết nhưng không tìm thấy con đường đi của mình, bơ vơ, lạc lõng trước cuộc đời. Bức tranh tâm cảnh ẩn chứa đằng sau bức tranh ngoại cảnh, nỗi buồn của lòng người như lan tỏa sang cả thiên nhiên. Nỗi buồn côn đơn cứ thế thấm sâu hơn vào cảnh vật: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiuĐâu tiếng làng xa vãn chợ chiềuNắng xuống, trời lên sâu chót vótSông dài, trời rộng, bến cố liêu Dường như dòng tràng giang mở rộng hơn về không gian, hình ảnh: Có thêm lơ thơ vài cồn cát nhỏ, có thêm âm thanh của tiếng chợ chiều là âm thanh quen thuộc, gần gũi của quê hương, bầu trời với những vạt nắng chiều buông xuống và một bến sông nhỏ nằm im lìm trong nắng sớm. Đây đều là những hình ảnh bình dị mang linh hồn của làng mạc, những nét phác họa đó đã tạo nên bức tranh đẹp tĩnh lặng, yên bình. Và không gian ấy còn được mở rộng thành không gian ba chiều mênh mông, rợn ngợp với “nắng xuống, trời lên, sông dài”, hình ảnh vũ trụ không có đáy, mở rộng không cùng, tạo cảm giác “sâu chót vót”. Chẳng ai có thể có cách kết hợp từ độc đáo, táo bạo như Huy Cận khi sử dụng một từ chỉ chiều cao với từ gợi chiều sâu càng khiến vũ trụ vô biên, rợn ngợp. Nhưng ẩn sâu trong bức tranh thiên nhiên đầy gợi cảm đó lại là nỗi buồn cô liêu của người thi sĩ với kiếp người bé nhỏ trước sự rộng lớn, rợn ngợp của cuộc đời. Qua đến khổ 3 bài thơ, vẫn là dòng tràng giang mênh mông sóng nước: Bèo dạt về đâu hàng nối hàngMênh mông không một chuyến đò ngangKhông cầu gợi chút niềm thân mậtLặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng nhưng cảnh vật được tô điểm thêm đó là những cánh bèo hàng nối hàng trôi trên sông, những bờ xanh, bãi vàng hai bên bờ – những hình ảnh hết sức bình dị, thân thuộc. Trước cảnh mênh mông sóng nước, thi nhân nhìn bèo dạt mây trôi mà lòng tự vấn “về đâu”, nhìn cầu, nhìn chuyến đò ngang mà không khỏi khắc khoải, cô quạnh. Bút pháp tả cảnh ngụ tình đã khắc họa rõ nét hơn nỗi buồn cô đơn của một người hay cũng chính là của cả lớp người lúc bấy giờ. Thiên nhiên trong tràng giang tiếp tục được khắc họa rõ nét hơn qua những câu thơ cuối: Lớp lớp mây cao đùn núi bạcChim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều saLòng quê dờn dợn vời con nướcKhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà Bốn câu thơ cuối vẽ nên những nét vẽ tuyệt đẹp của buổi hoàng hôn trên quê hương xứ sở bằng vài nét chấm phá với những hình ảnh ước lệ quen thuộc “cánh chim chiều, chòm mây chiều”. Không giống như những nhà thơ cổ điển khác, mây chiều trong thơ Huy Cận đẹp rực rỡ, sống động, đầy sinh khí, mang vẻ đẹp linh hồn quê hương xứ sở. Từng lớp mây chất chồng lên nhau, “đùn” cao, tỏa rộng chiếm lĩnh cả không gian, vũ trụ. Vũ trụ như mở rộng hơn, hùng vĩ, vô biên. Mặt trời khuất sau những đám mây, chiếu những tia nắng lên khiến mây như những “núi bạc” sáng lấp lánh. Hoàng hôn trên quê hương đẹp như một miền cổ tích. Trên nền cảnh hoàng hôn ấy điểm thêm một vài hình ảnh độc đáo: “chim nghiêng cánh nhỏ”, tác giả đã dùng điểm vẽ diện để tô đậm hơn cái hùng vĩ của bầu trời, tạo nên những nét vẽ đầy thơ mộng cho buổi hoàng hôn.. Bầu trời hoàng hôn đẹp hùng vĩ, thơ mộng, rực rỡ đầy sinh khí với những dáng hình thân quen, mang linh hồn quê hương xứ sở là vậy nhưng vẫn ẩn trong đó là nỗi xót xa, cô đơn, quạnh vắng của cái Tôi trong kiếp người nhỏ bé. Và thông qua những nét vẽ đẹp đẽ, đầy gợi cảm của thiên nhiên, tác giả cũng thể hiện tình yêu quê hương, đất nước thầm kín của mình. Đồng điệu với Huy Cận, nhà thơ Xuân Diệu cũng gửi gắm nỗi lòng mình qua bức tranh thiên nhiên mùa thu với những nét vẽ lãng mạn nhưng mang vẻ tĩnh lặng, buồn thương: Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tangTóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng Nhà thơ mở đầu bài thơ Đây mùa thu tới bằng hình ảnh “hàng liễu đìu hiu” mà không phải là những hình ản đặc trưng riêng của mùa thu như những nhà thơ khác. Có lẽ bởi cái nhìn đầy tinh tế, tài quan sát liên tưởng phong phú và dụng ý nghệ thuật riêng biệt, độc đáo của “ông hoàng thơ tình”. Dưới con mắt của thi sĩ, những lá liễu như mái tóc buông dài của người con gái, đẹp gợi cảm nhưng lại mang nét buồn bã “đìu hiu”, cô đơn, “đứng chịu tang” với ngàn hàng lệ tuôn dài. Thật khó mà tưởng tượng bức tranh mùa thu lại mở ra buồn bã, cô tịch, đìu hiu đến như vậy. Nhưng khi đọc những câu thơ tiếp theo: Đây mùa thu tới mùa thu tớiVới áo mơ phai dệt lá vàng Không gian bức tranh thiên nhiên như bừng sáng hơn bởi tiếng thốt lên đầy vui mừng của người thi sĩ khi mùa thu đã gõ cửa. “Áo mơ phai dệt lá vàng” là một hình ảnh thiên nhiên đầy tươi sáng, mang đúng đặc trưng của mùa thu với phông nền “lá vàng”. Nhưng nếu thu chỉ có lá vàng thì “thu” của Xuân Diệu cũng chỉ giống như “thu” của những nhà thơ khác, mà dưới sự quan sát và trái tim nhạy cảm của mình, ông đã vẽ nên những nét vẽ cụ thể về bức tranh thiên nhiên mùa thu của riêng mình: Hơn một loài hoa đã rụng cànhTrong vườn sắc đỏ rũa màu xanhNhững luồng run rẩy, rung rinh láĐôi nhánh khô gầy xương mỏng manh Phải là một nhà thơ đầy tinh tế, tài hoa trong việc sử dụng, kết hợp từ ngữ thì Xuân Diệu mới vẽ ra trước mắt người đọc khung cảnh của mùa thu đầy chân thực, gợi cảm đến vậy bằng ngôn ngữ. Không chỉ một, mà “hơn một” loài hoa đã rụng cành, nét vẽ này đã nêu bật được đặc trưng của mùa thu xứ sở, mỗi khi thu đến, cây cối bắt đầu rụng lá, rụng hoa. Nhưng quy luật sinh trưởng của tạo hóa muôn đời là vậy, cớ sao khi đọc những dòng thơ của Xuân Diệu, ta lại cảm thấy một nỗi buồn cô đơn, mênh mang, trống trải đến như vậy. “Sắc đỏ” của cây lá xâm chiếm toàn bộ không gian khu vườn, cảnh vật “run rẩy, rung rinh, khô gầy, mỏng manh”… cho ta thấy cái se lạnh của khí trời mùa thu đã thực sự đến. Thiên nhiên có lãng mạn, gợi cảm đấy song lại mang một vẻ đẹp tàn tạ, héo úa đến nao lòng. Cái se lạnh của khí trời như lan tỏa hơn trong những câu thơ tiếp theo: Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơNon xa khởi sự nhạt sương mờĐã nghe rét muốt luồn trong gióĐã vắng người sang những chuyến đòMây vẩn từng không chim bay điKhí trời u uất hận chia li Có thể thấy hình ảnh thiên nhiên vừa gần lại vừa xa, mở rộng về chiều dài của những lớp “non xa”, đẩy cao hơn bởi “nàng trăng tự ngẩn ngơ” trên bầu trời cao thẳm, và được bao bọc bởi lớp sương mỏng, tạo hình ảnh vừa thực, vừa ảo, vừa thơ mộng nhưng cũng không kém phần độc đáo. Thu về không chỉ mang theo lá vàng, những làn sương mỏng manh mà nó còn mang theo cái “rét mướt”, không phải rét buốt, rét tê tái mà là rét mướt kết hợp với từ “luồn” khiến người đọc có cảm giác không khí rét đang len lỏi vào trong những cơn gió theo chân nàng thu về với đất trời. Thật là một hình ảnh hiếm thấy trong thi ca!. Lại một lần nữa, tài năng và sự sáng tạo của Xuân Diệu được thể hiện qua việc xây dựng hình ảnh sáng tạo “mây”. Nhắc đến mây mùa thu, ta thường nhắc đến những tầng mây xanh ngắt, trời trong veo,… nhưng ở đây, Xuân Diệu lại mang đến cho chúng ta hình ảnh “mây vẩn từng không”. Bầu trời mùa thu như cũng mang vẻ đượm buồn, u uất trong cuộc chia li “trời mây” và những chú chim bay về phương Nam tránh rét. Nhưng bức tranh ngoại cảnh cũng chỉ là làm nền cho bức tranh tâm cảnh bên trong của con người với cảm xúc nhớ thương buồn lặng: “Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói/ Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?”. Cũng giống như Huy Cận, Xuân Diệu cũng gửi vào bức tranh thiên nhiên trời thu những cảm xúc của cái Tôi cá nhân buồn lãng mạn, nhớ thương da diết, nỗi cô đơn lan tỏa sang cả cảnh vật. Khác với vẻ lãng mạn, thơ mộng nhưng buồn bã, đìu hiu trong những trang thơ Tràng giang của Huy Cận, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, thiên nhiên trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của thi sĩ họ Hàn (Hàn Mặc Tử) hiện lên thật sống động, tươi xinh, đẹp đẽ: Sao anh không về chơi thôn VĩNhìn nắng hàng cau, nắng mới lênVườn ai mướt quá xanh như ngọcLá trúc che ngang mặt chữ điền Bài thơ mở ra bằng câu hỏi với âm điệu tha thiết, triền miên. “Sao anh không về chơi thôn Vĩ” nghe như một lời trách cứ, dỗi hờn hay cũng chính là lời mời gọi của người thôn Vĩ với thi sĩ, nhưng thực chất đó chính là lời tác giả tự mời gọi chính mình trong nỗi khát khao được về chơi thôn Vĩ. Vậy có gì độc đáo thú vị ở thôn Vĩ mà nhà thơ lại khao khát đến vậy?. Bức tranh thiên nhiên mở ra bằng hình ảnh cái “nắng hàng cau, nắng mới lên”, ánh nắng chan hòa rực rỡ tỏa sáng, bừng dậy cả không gian. Khu vườn Vĩ Dạ vừa rực rỡ tinh khôi vừa mát lành, dịu nhẹ đối lập với sự tĩnh lặng, trầm tư của Huế. Cảnh vườn được tác giả vẽ bằng những nét bút từ xa đến gần, từ cao đến thấp, tuy là “vườn ai” phiếm định nhưng gợi lên khung cảnh sống động, tươi mới, lung linh với những khu vườn “mướt”, sum suê, mơn mởn, mỡ màng, mềm mượt, một vẻ đẹp đầy sức sống. Màu xanh của cây cối là màu “xanh như ngọc” vừa gợi vẻ trù phú, vừa gợi sự lộng lẫy, quý phái. Câu thơ không chỉ tả cảnh mà còn là lời trầm trồ khen ngợi cảnh sắc đẹp đẽ, gợi cảm, quyến rũ của tác giả trước khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp của Vĩ Dạ. Không chỉ vậy, cảnh thôn Vĩ còn hiện lên đầy thơ mộng, ấm áp bởi có sự xuất hiện của con người xứ Huế với lối sống kín đáo, hay ngại ngùng, e thẹn. Chỉ qua mấy dòng thơ đầu, tác giả Hàn Mặc Tử đã vẽ lên trước mắt người đọc cảnh vườn đặc trưng của xứ Huế ấm áp, tươi trẻ, tràn đầy nhựa sống, cảnh và người cùng hòa quyện hài hòa. Bức trangh ngoại cảnh xứ Huế được mở rộng hơn về không gian với cảnh sông nước mây trời mang nét rất riêng chỉ nơi đây mới có: Gió theo lối gió mây đường mâyDòng nước buồn thiu hoa bắp layThuyền ai đậu bến sông trăng đóCó chở trăng về kịp tối nay! Trên cao gió thổi nhẹ, mây chầm chậm trôi, phía dưới sông Hương uốn mình lững lờ chảy, những bông hoa bắp lay động trong gió. Nhịp thơ chậm, dàn trải gợi sự mênh mang của sóng nước mây trời và không khí yên bình, nhịp sống khoan thai trầm tư đặc trưng nét tính cách riêng biệt của người dân Huế mộng mơ. Cùng với đó là bức tranh đêm trăng trên sông Hương thơ mộng, huyền ảo, cả dòng sông như tràn ngập ánh trăng lóng lánh, lung linh, hư ảo: Dòng sông trăng, bến sông trăng, thuyền chở đầy trăng. Có thêm trăng, bức tranh thiên nhiên sống động, tươi trẻ ban sáng đã chuyển thành bức tranh kì bí, huyền ảo, lung linh, gợi cảm biết nhường nào. Phải có một tình yêu thiên nhiên, gắn bó với mảnh đất xứ Huế thiết tha sâu nặng và con mắt tinh tế, nhạy cảm thì thi sĩ Hàn mới có thể vẽ nên bức tranh thiên nhiên tuyệt diệu đến như vậy. Nhưng “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, ẩn sau bức tranh ngoại cảnh đó là bức tranh tâm cảnh của nhà thơ, vui vì cảnh đấy nhưng cũng thật buồn thương, cô đơn lan tỏa cả vào cảnh vật, thấm cả vào gió mây đất trời. 

  2.  Nhà phê bình nổi tiếng Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã dùng những lời trang trọng, tốt đẹp nhất: “Một thời đại trong thơ ca” để nói về phong trào Thơ mới (1932-1945). Với các gương mặt tiêu biểu nhất là Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử. Đó là những thi nhân chủ yếu đã đem lại cho thơ ca Việt Nam nhiều tác phẩm đặc sắc. Đặc biệt là hình ảnh thiên nhiên trong các tác phẩm này thật đẹp và gợi cảm. Có điều là do hoàn cảnh đất nước ta mất chủ quyền, nhân dân ta phải sống trong vòng áp bức của bọn thực dân phong kiến, nên hình ảnh thiên nhiên trong “Thơ mới” ở đây tuy đẹp mà buồn. Cứ thử dọc lại những bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, Đây mùa thu tới của Xuân Diệu và Tràng giang của Huy Cận, chúng ta sẽ nhận ra rất rõ điều này.

       Thơ Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu và Huy Cậu, ba khuôn mặt lớn của Thơ mới, đều có chung một đặc điểm là thể hiện tình yêu thiên nhiên thật nồng nàn và say đắm. Bằng cảm hứng lãng mạn, các nhà thơ tài tình này đã xây dựng lên trong thơ mình những bức tranh thiên nhiên đầy màu sắc hữu tình và gợi cảm. Thiên nhiên ở đây mà cũng rất buồn, vì bao giờ cũng lá hình ảnh một thiên nhiên khúc xạ qua tâm hồn của nhà thơ. Nỗi buồn của các thi nhân ở đây cũng là nồi buồn của cả một thế hệ đương thời, nỗi buồn của cả một dân tộc phải sống lầm than trong những

       Năm tháng tối tăm u buồn dưới thời Pháp thuộc.

       Trước hết là bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử, bài thơ thật xinh xắn với những cảnh thiên nhiên xứ Huế đầy cảnh sắc hữu tình, duyên dáng. Qua cái nhìn trong sáng giàu chất thơ của thi nhân, cảnh vật xứ Huế như sáng bừng lên trong ánh nắng ban mai “nặng mới lên “. Nổi bật lên từ bức tranh là một màu xanh óng ả mướt quá của cây cối vườn tược nhà ai, một màu xanh ngọc bích trẻ trung đầy sức sống. Thấp thoáng giữa vẻ đẹp tươi tắn, mượt mà “xanh như ngọc” ấy là một bóng hình gợi cảm:

        Nhìn nắng hàng can nắng mới lên

        Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

        Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

       Từ vẻ đẹp hư ảo như có như không, như ẩn như hiện này, bài thơ dẫn tới một bức tranh thiên nhiên khác, thể hiện cái đẹp huyền ảo của trăng gió mây trời và sông nước xứ Huế:

       Gió theo lối gió mây đường mây

       Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

       Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

       Có chở trăng về kịp tối nay!

       Đây là cảnh sông nước mây trời đầy huyền ảo của xứ Huế trong một đêm trăng tĩnh lặng. Lúc bấy giờ có gió, nhưng gió chỉ nhẹ, không đủ để làm cho mây bay, nhưng vừa đủ để hoa bắp lay khe khẽ. Trong cái không gian tĩnh lặng ấy, có một con thuyền đậu nơi bến vắng, khiến cảnh vật càng huyền ảo hơn. Đặc biệt là bến sông lúc này đã trở thành bến trăng và con thuyền cũng chở khảm ánh trăng. Đó là một không gian mênh mông hư ảo với “sương khói mờ nhân ảnh”.

       Đúng là thiên nhiên ở đây thật dẹp, thật quyến rũ nhưng cũng gợi buồn, một nồi buồn bâng khuâng dịu vợi, man mác lan tỏa. Phải chăng đó cũng chính là tâm trạng của nhà thơ, một chút lòng chơi vơi, hụt hẫng trước một linh cảm tản mạn chia lìa: “Gió theo lối gió mây đường mây” và một nỗi hoài nghi mờ mịt: Ai biết tình ai có đậm đà?…

       Tiếp đó, thiên nhiên trong bài thơ Đây mùa thu tới của Xuân Diệu cùng buồn lặng “đìu hiu”, phai tàu, héo úa. Nhà thơ bắt đầu tác phẩm của minh bằng những hàng liễu rũ:

       Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang

       Tóc buồn buông xuống lộ ngàn hàng.

       Lá liễu từng sợi dài rũ xuống, dưới mắt thi nhân đã trở thành làn tóc của người thiếu nữ tóc buồn buông xuống. Nước mắt không rơi thành giọt mà rơi thành sợi, sợi buồn “buông xuống lệ ngàn hàng”.

       Nhà thơ nhìn lá vàng từng chiếc rơi từng chiếc lại thấy đó là một sắc áo đẹp của mùa thu, nên đã reo lên chào đón:

       Đây mùa thu tới – mùa thu tới

       Với áo mơ phai dệt lá vàng.

       Cái đẹp của mùa thu ớ đây là cái đẹp của vẻ tàn phai, héo úa, khô gầy:

       Hơn một loài hoa đã rụng cành

       Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh

       Những luồng run rẩy rung rinh lá…

       Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh.

       Nỗi buồn mùa thu từ hoa rụng lá úa ở hai câu đầu của khổ thơ đã lan ra, thấm sâu vào các nhánh cây trơ trụi Khô gầy xương mỏng manh ở hai câu sau khiến cái rét thấu xương của từng luồng gió lạnh đã làm run rẩy rung rinh cả những chiếc lá thu còn sót lại.

       Nỗi buồn ấy, cái rét ấy càng dễ nhận ra ở nơi trống vắng, ở những bến đò. Tuy đây là chỗ bốn bề lộng gió lại hội tụ đông người, nhưng chính cái rét thấu xương kia cùng khiếu người ta e ngại, ít muốn sang sông.

       Đã nghe rét mướt luồn trong gió

       Đã vắng người sang những chuyến đò

       Nỗi buồn mùa thu còn thắm đẫm đến cả mây trời, làm nên một không khí u uất hận chia li với những cảnh chim bay về phương xa tránh rét:

       Mây vẩn từng không chim bay đi

       Khí trời u uất hận chia li

       Tất cả chi tiết của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ này đều gợi nên một cảm giác xa xăm, nhớ thương buồn lặng. Cuối cùng, trên bức tranh thơ thấy hiện lên bóng dáng con người:

       Ít nhiều thiếu nữ buồn không nói

       Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì?

       Đúng là hình ảnh của các cô với nét mặt buồn, với đôi mắt nhìn mãi ra xa, không chú mục vào một cái gì cụ thể mà như đang chìm đắm trong nỗi buồn và cô đơn, ngơ ngẩn.

       Sau hết, là bài thơ Tràng giang của Huy Cận bức tranh thiên nhiên ở đây là hình ảnh sông nước thấm đượm một nỗi niềm “Băng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. Mở đầu bài thơ là một khung cảnh thiên nhiên êm đềm bình lặng:

       Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

       Con thuyền xuôi mái nước song song

       Thuyền về nước lại sầu trăm ngả

       Củi một cành khô lạc mấy dòng.

       Bên cạnh hình ảnh những “làn sóng”, “con thuyền” quen thuộc, những thi liệu từ lâu đã trở thành cổ điển, khổ thơ trên còn có thêm một nét sáng tạo hết sức bất ngờ: “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Một cành củi khô trôi dạt vô định trên dòng sông chính là hình ảnh gợi người đọc nghĩ đến một thân phận lạc loài. Lối đảo ngữ “Củi một cành khô” càng làm nôi bật thêm sự cô độc, lạc loài và héo hon ấy.

    Sang khổ thơ tiếp theo, nỗi buồn như càng thấm sâu hơn vào cảnh vật:

    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu

    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

    Sông dài, trời rộng,, bến cô liêu.

       Bức tranh thiên nhiên vụt lớn hẳn gió đìu hiu thổi qua vài dải đất lơ thơ giữa sóng dài quạnh vắng, lặng buồn. Ngay cả tiếng chợ chiều đã tàn từ một làng nào đó cũng không có nữa. Không gian tiếp đó lại được mở rộng và đẩy cao thêm trong hai câu cuối của khổ thơ, vì “nắng xuống trời lên” Nhưng tuyệt vời hơn cả là ở đây nhà thơ đã tả chiều sâu trong chiều cao. “Nắng xuống trời lên sâu chót vót”.

       Cảnh vật lại được mở ra thêm trong khổ thơ thứ ba với cả “bờ xanh tiếp bãi vàng” và những đám bèo trôi dạt “hàng nối hàng” chẳng biết sẽ về đâu. Toàn cảnh tràng giang trời rộng sông dài ấy lại tuyệt nhiên quạnh vắng, thiếu hẳn bóng người. Ở đây không có lấy một chuyến đò ngang hay một chiếc cầu để “gợi chút niềm thân mật:” Dưới mắt thi nhân, thiên nhiên dù hoang vắng nhưng vẫn lung linh và có hồn. Chính cảnh tình ấy đã lắng đọng thành lòng quê dờn dợn ở khổ kết bài thơ:

       Lòng quê dờn dợn vời con nước

       Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

       Đến đây, con người mới hiện ra cái cả tâm tình sâu nặng của mình giữa một thiên nhiên. Chua xót hơn nữa thi nhân đứng trên quê hương mình mà da diết nhớ quê hương mình, nói một cách khác là cảm thấy mình lạc loài ngay chính trên quênhiên đẹp đến độ kì vĩ lạ lùng. “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc. Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa” Cả một nỗi niềm “Sôngdài trời rộng bến cô liêu” đã dàn trải suốt bài thơ đến đây, bỗng hiện ra với một nội dung cụ thể: Đó là nỗi nhớ quê hương da diết. Ngàytrước, Thôi Hiệu đứng trên Hoàng Hạc lâu, trông vời khói sóng chiều hôm mà buồn nhớ quê hương. Còn ở đây, Huy Cận : “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )