Môn Văn Lớp: 11 Cảm nhận của em về hai khổ thơ đầu trong bài thơ đây thôn vĩ dạ

Question

Môn Văn Lớp: 11 Giúp em bài này với ạ: Cảm nhận của em về hai khổ thơ đầu trong bài thơ đây thôn vĩ dạ
No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Jade 1 tháng 2022-03-17T03:46:49+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. A, MB

    – Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

    + Tác giả Hàn Mặc Tử: là nhà thơ tài hoa của dòng văn học lãng mạn. Thơ ông mang nhiều màu sắc đan xen nhau tạo nên một nét riêng độc đáo, vừa nhẹ nhàng, tinh khiết, vừa đẹp tuyệt vời nhưng có những bài thơ mơ hồ, mờ ảo, “điên điên”

    + Xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác: Đây thôn Vĩ Dạ được rút ra từ tập Thơ điên. Khi hai người cùng ở Quy Nhơn, Hàn Mặc Tử đã từng yêu thầm Hoàng Thị Kim Cúc. Khi về Huế, Hoàng Cúc nghe tin Hàn Mặc Tử bệnh bèn gửi vào tặng Hàn Mặc Tử tấm bưu ảnh phong cảnh và lời chúc sớm lành bệnh. Từ đó, đã gợi cho ông những kỉ niệm một thời từng sống ở Huế và sáng tác bài thơ này.

     + Từ những kỉ niệm về Huế, nhà thơ đã khắc họa nên bức tranh tuyệt về cảnh vật, con người xứ Huế. Đồng thời, mượn câu chuyện tình đơn phương của mình để kín đáo gửi gắm tình yêu quê hương xứ sở.

    – Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ đã thể hiện được sự chia ly đôi lứa cùng với sự tan vỡ trong tình yêu của nhà thơ trong hai khổ thơ cuối.

    B, TB

    1, Khổ 1: Bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của thôn Vĩ

    – Trong bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ, khổ thơ đầu tiên đã tái hiện được bức tranh thiên nhiên tươi đẹp của những khu vườn miệt vườn xứ Huế. Thật vậy, những hình ảnh trong khổ thơ đều là những hình ảnh chọn lọc của vườn cây trái.

    – “Nắng mới lên” gợi ra hình ảnh của những tia nắng đầu ngày, ấm áp và dịu dàng, tươi rói đang chiếu rọi lên những hàng cau xanh xanh. Sắc nắng hòa vào sắc xanh của những vườn cau xanh làm cho khung cảnh trở nên rực rỡ và thơ mộng.

    – Tiếp theo, câu thơ “Vườn ai mướt quá xanh như ngọc” có sử dụng hình ảnh so sánh “xanh như ngọc” gợi ra vẻ đẹp của khu vườn vào sáng sớm bình minh. Khi ngày mới đến, những giọt sương long lanh vẫn còn đọng trên những cành cây kẽ lá thì khu vườn càng trở nên sinh động và giàu sức sống hơn.

    – Tuy nhiên, bức tranh thiên nhiên dường như chỉ là bức tranh trong tâm tưởng của nhà thơ kể về mảnh đất xứ Huế mà ông đang hướng về. Khung cảnh thiên nhiên tươi đẹp nhưng cũng dự cảm những đau đớn và chia cách trong tình yêu ở những dòng thơ sau.

    2, Khổ thơ 2: Mối tình tan vỡ của nhà thơ:

    Gió theo lối gió, mây đường mây,
    Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay…
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
    Có chở trăng về kịp tối nay?

    – Câu thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” đã mượn hình ảnh thiên nhiên để nói lên sự chia ly của đôi lứa. Bình thường là gió thổi hướng nào thì mây bay hướng đó. Nhưng khi gió đi theo lối gió, mây đi theo đường mây gợi ra sự chia ly chẳng thể nào hàn gắn trong tình yêu. Ta cũng có thể thấy mượn hình ảnh thiên nhiên chính là phần không thể thiếu trong phong cách thơ lãng mạn của Hàn Mạc Tử. Đồng thời, hình ảnh “gió” và “mây” được nhân hóa như những sự vật có tâm hồn, giống như những người trong cuộc trong tình yêu

    – Hình ảnh nhân hóa “dòng nước buồn thiu” gợi ra nỗi buồn lan khắp không gian và gợi được chiều sâu của nỗi buồn. Trên mặt nước đó, tác giả chỉ thấy được nỗi buồn man mác, nỗi buồn da diết bao trùm lấy con tim mình

    – Hình ảnh “hoa bắp lay” gợi ra sự chuyển động nhẹ nhàng của sự vật trong không gian, gợi ra sự buồn thương bao trùm các không gian và cảnh vật

    – Hình ảnh “thuyền” và “bến” được tác giả sử dụng tài tình và khéo léo. Trong ca dao, hình ảnh thuyền và bến vẫn là hình ảnh của đôi lứa yêu nhau mà phải xa nhau. Trong những dòng thơ của mình, tác giả sử dụng những hình ảnh thuyền và bến như sự chia ly chẳng thể hội ngộ của đôi lứa khi thuyền chẳng thể giữ lời hứa về với bến và đem theo vầng trăng thề nguyền đính ước.

    C, KB

    Tóm lại, hai khổ thơ đầu đã thể hiện được bức tranh thiên nhiên tươi đẹp và sự tan vỡ trong tình yêu của tác giả.

  2. Trong số các thi nhân của phong trào thơ mới 1932 – 1945 có lẽ ta không thấy ai có số phận ai oán nghiệt ngã như Hàn Mặc Tử, số mệnh cay đắng của thi sĩ được tiên đoán trước qua ý nghĩa các biệt danh Phong Trần (Gió Bụi), Lệ Thanh (tiếng của nước mắt). Hàn Mặc Tử người đi trong màn lạnh với tấm lòng quặn thắt, ông đã trải lòng mình trên giấy mong manh và cho ra đời nhiều thi phẩm đặc sắc. Một trong số đó là bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ, đọc bài thơ người đọc sẽ có ấn tượng ngay với hai khổ thơ đầu:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    …………
    Có chở trăng về kịp tối nay”

    Hàn Mặc Tử là một trong ba đỉnh cao của phong trào thơ mới, ông là một hiện tượng Thơ rất mới lạ. Hồn thơ mãnh liệt luôn chất chứa sự mâu thuẫn giữa cảnh sắc và tinh thần vì những nỗi đau đớn về bệnh tật nên ông luôn khát vọng sống, khát vọng giao hòa giao cảm với cuộc đời, với con người. Bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ được sáng tác năm 1938, lấy cảm hứng từ một mối tình đơn phương của Hàn Mặc Tử với một cô gái Huế, bài thơ được in trong tập “Thơ điên” sau đổi thành “Đau thương”.

    Như chúng ta đã biết thơ là cuộc đời nhưng đó không phải là sự sao chép máy móc, mà phải được thanh lọc cảm nhận qua tâm hồn thi sĩ để thành thơ. Thơ là hình ảnh sống tươi nguyên, được tái hiện qua lăng kính tình cảm của người nghệ sĩ. Vì vậy nếu thơ không có tư tưởng, tình cảm thì đó chỉ là những lời sáo rỗng nhạt nhẽo vô vị tầm thường, chỉ là chọn làm xiếc, ngôn từ chẳng thể đánh lừa được người đọc. Vai trò là một nhà thơ, Hàn Mặc Tử không ngừng sáng tạo cho ra đời những tác phẩm đặc sắc, khác với các nhà thơ cùng thời. Đọc Đây Thôn Vĩ Dạ ta càng cảm thấy rõ điều đó, mở đầu bài thơ là một câu hỏi tu từ:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”

    Câu hỏi đó chính là sự phân thân của nhà thơ, nhà thơ hóa thân vào cô gái Huế để hờn dỗi, trách móc nhẹ nhàng nhưng đằng sau ấy là sự mời mọc rất chân thành, nhà thơ sử dụng từ “chơi” gợi lên sự thân mật gần gũi. Mặt khác câu hỏi tu từ này là nhà thơ đang tự hỏi mình, tự trách mình sao cảnh Huế đẹp như vậy mà anh không vào chơi. Đó là một câu hỏi lớn, nỗi đau khắc khoải, bây giờ đây trở về xứ Huế đã trở thành một niềm khao khát của nhà thơ. Có lẽ khi sáng tác bài thơ này, nhà thơ đang ở giai đoạn cuối của bệnh phong nên ông chỉ có thể trở về chơi thôn vĩ trong tâm tưởng, nhưng dù là trong tâm tưởng thì cảnh thiên nhiên về thôn Vĩ vẫn đẹp lung linh:

    “Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Bức tranh thôn Vĩ xinh xắn thơ mộng được chiêm ngưỡng từ xa đến gần. câu thơ với điệp từ “nắng” đã gợi lên trong mắt người đọc một không gian tràn ngập ánh sáng, cau đó là một loại cây mang vẻ đẹp đặc trưng của thôn Vĩ, với thân hình thẳng tắp tán lá xanh tươi, vườn cây thôn Vĩ tươi tốt đến mức khách ở xa về phải trầm trồ “vườn ai mướt quá xanh như ngọc” vườn ai không xác định nhưng người đọc vẫn có thể hiểu là vườn của cô gái Huế. “mướt quá” là sự đặc tả sắc xanh của cây lá. Tại sao tác giả không dùng màu xanh da trời, xanh thẫm mà dùng màu xanh ngọc bích, có lẽ đó là màu xanh tinh khiết, tinh túy, quyến rũ và bức tranh thôn Vĩ ngày càng đẹp hơn, hiện lên đầy đủ hoàn hảo hơn, khi có sự xuất hiện của người con gái “lá trúc che ngang mặt chữ điền”. Vĩ Dạ nổi tiếng với màu xanh của trúc một loại cây được trồng trước ngõ, trong tâm tưởng của thi nhân bất chợt hiện về qua mặt chữ điền lấp ló sau hàng trúc. Lá trúc thì mảnh mai, mặt chữ điền gợi lên sự vuông vắn, phúc hậu.

    Tất cả tạo nên vẻ đẹp hài hòa giữa con người với thiên nhiên, nếu ở khổ thơ thứ nhất nhà thơ nhìn cảnh vật bằng sự lạc quan yêu đời, thì khổ thơ thứ hai đã có sự thay đổi đó chính là sự mặc cảm về cảnh chia lìa, tan tác:

    “Gió theo lối gió mây đường mây
    Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

    Hai câu thơ nói lên vẻ đẹp đặc trưng của xứ Huế, đó là dòng sông Hương chảy lững lờ hai bên bờ sông, là những vườn bắp, những bông hoa nhẹ nhàng lay động còn trên cao thì gió đi theo lối gió mây đi theo đường mây. Trong thực tế ta thấy Gió và Mây là hai sự vật không thể tách rời, bởi có gió thổi thì mây trời có thể bay. Vậy mà hai chữ chia lìa vẫn đến còn dòng nước buồn thiu như mang trong mình một tâm trạng không gì tả nổi.

    Đến hai câu thơ tiếp theo vẫn là dòng sông Hương, là Huế mộng mơ nhưng nó không còn nắng, không còn xanh của Vĩ Dạ mà trước mắt người đọc là không gian tràn ngập ánh trăng, con thuyền trở thành thuyền Trăng, dòng sông trở thành sông trăng và bến trở thành bến trăng

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay”

    Từ xưa đến nay, ta thường bắt gặp hình ảnh thuyền trăng, bến chăng, Nhưng nay ta lại bắt gặp một hình ảnh mới đó là sông trăng, đọc câu thơ người đọc mới có cảm tưởng như đang vào cõi mộng, dường như nhà thơ đang sống trong khắc khoải, chờ mong. Ở thơ thứ nhất câu hỏi tu từ xuất hiện với câu thơ đầu còn đối với khổ thơ thứ hai câu hỏi tu từ lại xuất hiện ở câu cuối. Câu thơ như mang nhiều cảm xúc “Có chở trăng về “ là sự mong ngóng hi vọng “kịp tối nay” là khắc khoải, lo âu, là sự hoài nghi, là sự khẩn thiết yêu cầu. Nhưng dường như nhà thơ đã dự cảm được sự thất vọng, nhà thơ như ý thức được rằng nếu trăng không về kịp thì mình sẽ vĩnh viễn rơi vào thế giới đau đớn, tuyệt vọng.Thành công của đoạn thơ là nhờ sử dụng các biện pháp tu từ như điệp từ, câu hỏi tu từ, so sánh bằng thủ pháp nghệ thuật liên tưởng, cùng với những câu hỏi tu từ xuyên suốt đoạn thơ. Nhà thơ đã khắc họa ra trước mắt ta một khung cảnh nên thơ, đầy sức sống và bản trong đó là nỗi lòng của chính nhà thơ.

    Tóm lại, Đây Thôn Vĩ Dạ là một bức tranh đẹp về cảnh và người của miền quê, đất nước qua tâm hồn thơ mộng giàu trí tưởng tượng và đầy yêu thương của nhà thơ đa tình, đa cảm. Và Hàn Mạc Tử đã thực sự thành công trong việc thể hiện sự chuyển biến về tâm trạng của nhân vật trữ tình – người mang một tâm trạng nặng trĩu.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )