Môn Văn Lớp: 10 PHẦN I. ĐỌC- HIỂU (3,0 điểm) Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu: Cả một thế giới rộng lớn ngoài kia đang chờ bạn, mặc dù con đường

Question

Môn Văn Lớp: 10 Giúp em bài này với ạ: PHẦN I. ĐỌC- HIỂU (3,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
Cả một thế giới rộng lớn ngoài kia đang chờ bạn, mặc dù con đường tới đó không hiện ra cho những ai chỉ muốn đi trên các lối mòn quen thuộc và làm những công việc quen thuộc. Với những người này thì thế giới cũng chật hẹp giống như những lối mòn quen thuộc của họ và công việc của họ cũng hạn chế như những thói quen của họ vậy. Còn với những người tiên phong quyết tâm đi trên những con đường mới và thử làm những cái mới với tinh thần cầu tiến và chấp nhận thử thách, thế giới thật sự là một địa bàn rộng lớn và có vô số công việc để làm. Đó là cách thức mà tôi đã và sẽ tiếp tục sống- đi tìm những công việc mới và dồn tất cả những gì tôi có cho chúng.
Bạn là thanh niên. Vậy hãy trở thành người đi tiên phong. Đi tiên phong mới là cách sống thực sự. Thế giới đang trở nên khá nhỏ để có thể gọi nó là “Cái làng địa cầu” nhưng vẫn còn rất nhiều nơi để khám phá. Hành tinh chúng ta có rất nhiều người đang làm rất nhiều việc nhưng cũng còn có rất nhiều việc vẫn chưa ai từng làm. Hãy nghĩ đến cả thế giới và có những dự định to lớn, mà đừng sợ thất bại. Con đường của người đi tiên phong là một con đường đơn độc, nhưng bạn phải tự mở đường cho tương lai của chính mình. Đó là tất cả những gì gọi là một cuộc sống thực sự.
(Trích Thế giới quả là rộng lớn và có rất nhiều việc phải làm, Kim Woo Chung, NXB Đại học Kinh tế quốc dân, 2015, tr.64)
Câu 1. Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? (0,5 điểm)
Câu 2. Cách thức được tác giả lựa chọn để chinh phục thế giới rộng lớn? (0,5 điểm)
Câu 3. Chỉ ra và phân tích hiệu quả biểu đạt của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn trích trên. (1,0 điểm)
Câu 4. Theo anh/chị, tại sao tác giả lại cho rằng: “Con đường của người đi tiên phong là một con đường đơn độc, nhưng bạn phải tự mở đường cho tương lai của chính mình”? (1,0 điểm)
PHẦN II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu, anh/ chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến của tác giả: “Bạn là thanh niên. Vậy hãy trở thành người đi tiên phong”. (2,0 điểm)
Câu 2. Triết lí nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ Nhàn (Ngữ văn 10, Tập 1). (5,0 điểm)
————————Hết——————— No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Eliza 3 tháng 2022-01-11T07:44:57+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Câu 1

    PTBĐ chính: nghị luận

    Câu 2

    Cách thức được tác giả lựa chọn để chinh phục thế giới rộng lớn: đi tìm những công việc mới và dồn tất cả những gì tác giả  có cho chúng.

    Câu3

    BPTT: So sánh “Với những người này thì thế giới cũng chật hẹp giống như những lối mòn quen thuộc của họ và công việc của họ cũng hạn chế như những thói quen của họ vậy”

    Tác dụng: Nhấn mạnh vào những tác hại của việc đi theo lối mòn, làm những việc quen thuộc. Qua đó cho thấy thái độ phê phán của tác giả.

    Câu 4

    Sở dĩ tác giả nói như vậy là bởi người đi tiên phong là người tự mình mở ra một con đường mới, một hướng đi mới mà trước đó chưa có ai từng đi, hoàn toàn khác biệt với những hướng đi trong truyền thống. Đó là hướng đi mới nên chưa được kiểm chứng, chính vì vậy có thể không được mọi người đồng tình và ủng hộ. Đồng thời, tương lai mỗi người là do chính mình quyết định, vì vậy mỗi người “phải tự mở đường cho tương lai của mình”. Dẫu con đường ấy có đơn độc nhưng có thể đưa mỗi người đến thành công trong tương lai.

    Phần II. 

    Câu 1

     Trong đoạn trích, tác giả đã nêu ra 1 ý kiến hoàn toàn đùng đắn, đó là “ “Bạn là thanh niên. Vậy hãy trở thành người đi tiên phong”. Đây là một lời khuyên gửi đến lớp thanh niên, hãy trở thành những người đi đầu trong mọi hoạt động, trở thành người khai mở những con đường mới. Vậy vì sao thanh niên nên trở thành những người tiên phong? Trước hết bởi lẽ thanh niên là những người trẻ tuổi, có sức khỏe, có trong tay mình 1 trí tuệ minh mẫn và tri thức. Vì vậy, họ dễ dàng trở thnahf người tiên phong hơn thay vì những người ở độ tuổi trung niên hay trẻ nhỏ. Họ là những con người có ý chí, nhiệt huyết khám phá ra những chân trời mới. Họ luôn có khát khao sáng tạo, khát khao khám phá thế giới và được tự khẳng định bản thân mình trong xã hội. Đặc biệt, người trẻ tuổi muốn có thể thành công, muốn khẳng định được bản thân mình không thể cứ rập khuôn theo những người đi trước, những gì có sẵn, những lối mòn quen thuộc trong quá khứ mà phải tự mình khai phá, tìm ra những con đường mới cho riêng mình. Vậy muốn trở thành người tiên phong, thanh niên cần phải có những gì? Muốn tìm ra con đường mới, cần trau dồi kiến thức, tìm hiểu những phương pháp, cách thức, những con đường mà lớp người đi trước đã từng trải qua, từ đó vận dụng và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu cho bản thân mình. Đồng thời nên kế thừa kinh nghiệm của những người đi trước  nhưng không có nghĩa lả rập khuôn, máy móc, bởi lẽ như vậy cũng chính là đi vào “những lối mòn quen thuộc”. Nhiệm vụ của mỗi thanh niên là cần sáng tạo, đổi mới không ngừng để tìm ra hướng đi phù hợp cho riêng mình. Vậy nên, mỗi thanh niên luôn cần ý thức sâu sắc về sứ mệnh của mình trong xã hội, trong cuộc sống, cần thường xuyên rèn luyện, trau dồi kiến thức, tìm tòi, học hỏi những điều mới để trở thành người tiên phong trong lĩnh vực mà mình đam mê theo đuổi.

    Câu 2

    *Dàn ý

    I, MB: Giới thiệu tác giả, tác phâmr

              Nêu VĐNL

    Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng trong suốt thế kỉ XVI đối với các tập đoàn phong kiến mà ông còn là một nhà thơ lớn của dân tộc với những vần thơ mang cảm hứng thế sự và những triết lí về nhân sinh, xã hội.  Nhắc đến những triết lí nhân sinh, ta không thể quên “Nhàn” của ông. Bài thơ đã thể hiện 1cách sâu sắc triết lí nhàn của ông.

    II, TB 

      1, Giới thiệu chung

       – Tác phẩm: Viết bằng chữ Nôm, thuộc Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài số 73

       – Nhàn: Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nhàn là một nội dung lớn đồng thời là triết lí sống phổ biến của tầng lớp nho sĩ thế kỉ XVI. Lối sống nhàn dật trong bài thơ được thể hiện trong toàn bộ bài thơ từ cách sống, cách sinh hoạt, quan niệm của nhà thơ.

     2, Phân tích triết lí Nhàn

      a, Nhàn là sự thảnh thơi, ung dung trong lòng với thú điền viên (2câu đề)

    –    Ba danh từ kết hợp với số từ : Mọi thứ đều đã sẵn sàng, chu đáo.

    – Nhịp thơ 2/2/3: sự ung dung, thanh thản của tác giả.

    => Các vật dụng gắn liền với công việc lấm láp, vất vả của người nông dân đi vào thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một cách tự nhiên, thư thái như chính tâm hồn của nhà thơ, giống như những vật dụngấy dùng để làm việc. Cuộc sống nơi thôn dã cái gì cũng có, tất cảđã sẵn sàng.

    –  Từ láy: thơ thẩn
    –  Cụm từ: Dầu ai vui thú nào

    => Con người tìm thấy niềm vui, sự thanh thàn trong cuộc sống, không gợi chút mưu tục. Một mình ta lựa chọn cách sống “thơ thẩn” mặc kệ ai kia “vui thú nào”. Tự mình lựa chọn cho mình một lối sống, một cách sống kệ ai có những thú riêng, âu đó cũng là bản lĩnh của kẻ sĩ trước thời cuộc.

    b, Nhàn là quan niẹm lánh đục về trong

    -Hìnhảnh ẩn dụ: Nơi vắng vẻ là nơi tĩnh tại của thiên nhiên, nơi tâm hồn tìm thấy sự thảnh thơi; chốn lao xao là nơi quan trường, nơi bon chen quyền lực và danh lợi

    => Phác hoạ hìnhảnh về lối sống của hai kiểu người Dại – Khôn → triết lí về Dại – Khôn của cuộc đời cũng là cách hành xử của tầng lớp nho sĩ thời bấy giờà Cách nói ngược, hóm hỉnh, thâm trầm màý vị.  Trong cuộc sống hàng ngày, với Nguyễn Bỉnh Khiêm, lối sống Nhàn là hoà hợp với đời sống lao động bình dị, an nhiên vui vẻ tránh xa vòng danh lợi, bon chen chốn vinh hoa, phú quý.

    c, Nhànlà sống thuận theo lẽ tự nhiên

    – Hình ảnh thiên nhiên: bốn mùa tuần hoàn Xuân – Hạ – Thu – Đông
    – Món ăn dân dã: măng trúc, giá
    –  Sinh hoạt: tắm hồ sen, tắm ao
    – phép đối + liệt kê tạo âm hưởng thư thái, tận hưởng
    =>Lối sống hoà hợp, thuận theo tự nhiên

    d, Triết lí sống nhàn

     – Điển tích: Rượu đến cội cây, sẽ uống, Phú quý tựa chiêm bao
    –  Nhìn xem: biểu hiện thế đứng từ bên ngoài, coi thường danh  lợi
    =>Khẳng định lối sống mà mình đã chủ động lựa chọn, đứng ngoài vòng cám dỗ của vinh hoa phú quý. Nguyễn Bỉnh Khiêm coi công danh phú quý tựa như giấc chiêm bao, giống như phù du vậy. Khi thể hiện quan điểm của mình, Nguyễn Bỉnh Khiêm lựa chọn mình thế đứng bên ngoài của sự cám dỗ danh lợi, vinh hoa – phú quý, bộc lộ thái độ xem thường.

    => Thú Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là dấuấn của một thờiđại lịch sử, thể hiện cách ứng xử của người trí thức trước thời loạn: giữ tròn thanh danh khí tiết.  Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nâng tư tưởng “nhàn” trở thành một triết lý sống, là cách hành xử trước thời cuộc, coi đây là phương thức hoá giải mâu thuẫn và hoà hoãn những xung đột thờiông đang sống.

    3. Đánh giá chung

    – NT: Nhịp thơ chậm, thong thả, giọngđiệu thơ nhẹ nhàng, hóm hỉnh

    III, KB: KHảng định lại vấn đề,

    *Bài viết tham khảo

    Nguyễn Bỉnh Khiêm không chỉ là một nhân vật lịch sử có tầm ảnh hưởng trong suốt thế kỉ XVI đối với các tập đoàn phong kiến mà ông còn là một nhà thơ lớn của dân tộc với những vần thơ mang cảm hứng thế sự và những triết lí về nhân sinh, xã hội.  Nhắc đến những triết lí nhân sinh, ta không thể quên “Nhàn” của ông. Bài thơ đã thể hiện 1cách sâu sắc triết lí nhàn của ông.

    Tác phầm được viết bằng chữ Nôm, thuộc Bạch Vân quốc ngữ thi tập, bài số 73. Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nhàn là một nội dung lớn đồng thời là triết lí sống phổ biến của tầng lớp nho sĩ thế kỉ XVI. Lối sống nhàn dật trong bài thơ được thể hiện trong toàn bộ bài thơ từ cách sống, cách sinh hoạt, quan niệm của nhà thơ.

    Nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. Những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo điên. Nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong sạch. Hành trình hưởng nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm nằm trong qui luật ấy, tìm về với nhân dân, đối lập với bọn người tầm thường bằng cách nói ngụ ý vừa ngông ngạo, vừa thâm thúy.

    . Trước hết, nhàn là sự thảnh thơi, ung dung trong lòng với thú điền viênCuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị:

    Một mai, một cuốc, một cần câu

    Thơ thẩn dù ai vui thú nào

    Ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một Nguyễn Bỉnh Khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão nông thực thụ. Nhưng đó là cả một cách chọn lựa thú hưởng nhàn cao quí của nhà nho tìm về cuộc sống “ngư, tiều, canh, mục” như một cách đối lập dứt khoát với các loại vui thú khác, nhằm khẳng định ý nghĩa thanh cao tuyệt đối từ cuộc sống đậm chất dân quê này! Dáng vẻ thơ thẩn được phác hoạ trong câu thơ thật độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật sự. Thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc,cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. Những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. Đàng sau những liệt kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thân dân của một con người chọn cuộc đời ẩn sĩ làm lẽ sống của riêng mình. Trạng Trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền

    Nhàn còn là lối sống, quan niệm lánh đục về trong

    Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    Người khôn người kiếm chốn lao xao

    Hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ đứng giữa cuộc đời. Phép đối cực chuẩn đã tạo thành hai đối cực: một bên là nhà thơ xưng Ta một cách ngạo nghể, một bên là Người; một bên là dại của Ta, một bên là khôn của người; một nơi vắng vẻ với một chốn lao xao. Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người đời lấy lẽ dại – khôn để tính toán, tranh giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn là thói thực dụng ích kỷ làm tầm thường con người, cuốn con người vào dục vọng thấp hèn. Mượn cách nói ấy, nhà thơ chứng tỏ được một chỗ đứng cao hơn và đối lập với bọn người mờ mắt vì bụi phù hoa giữa chốn lao xao. Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. Nhưng không giống lối nói ngược của Khuất Nguyên thuở xưa “Người đời tỉnh cả, một mình ta say” đầy u uất, Trạng Trình đã cười cợt vào thói đời bằng cái nhích môi lặng lẽ mà sâu cay, phê phán vào cả một xã hội chạy theo danh lợi, bằng tư thế của một bậc chính nhân quân tử không bận tâm những trò khôn – dại.

    Cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp của cuộc sống nhàn tản. Nhàn là ssống thuận theo lẽ tự nhiên:

    Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    Khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất đắm mình trong bả vinh hoa, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi của một thiên nhiên hào phóng bằng một tấm lòng hòa hợp với tự nhiên. Tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông, nhà thơ cũng được hấp thụ tinh khí đất trời để gột rửa bao lo toan vướng bận riêng tư. Cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát tục, tiêu biểu cho quan niệm “độc thiện kỳ thân” của các nhà nho, đồng thời có nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo Lão, “thoát tục” của đạo Phật. Nhưng gạt sang một bên những triết lí siêu hình, ta nhận ra con người nghệ sĩ đích thực của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hòa hợp với tự nhiên một cách sang trọng bằng tất cả cái hồn nhiên trong sạch của lòng mình. Không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với lòng mình. Hòa hợp với thiên nhiên là một Tuyết Giang phu tử đang sống đúng với thiên lương của mình.

    Quan niệm về chữ Nhàn của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:

    Rượu đến cội cây ta sẽ uống

    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Mượn điển tích một cách rất tự nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệt với công danh phú quý. Quan niệm ấy vốn dĩ gắn với đạo Lão – Trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng đặt trong thời đại nhà thơ đang sống lại bộc lộ ý nghĩa tích cực. Cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của mình:

    Ở thế mới hay người bạc ác

    Giàu thì tìm đến, khó thì lui

    (Thói đời)

    Phú quý đi với chức quyền đối với Nguyễn Bỉnh Khiêm chỉ là cuộc sống của bọn người bạc ác thủ đoạn, giẫm đạp lên nhau mà sống. Bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ Tăng thử (Ghét chuột) của mình. Bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻ với nhân dân. Cuộc sống đạm bạc mà thanh cao của người bình dân đáng quý đáng trọng vì đem lại sự thanh thản cũng như giữ cho nhân cách không bị hoen ố vẩn đục trong xã hội chạy theo thế lực kim tiền. Cội nguồn triết lí của Nguyễn Bỉnh Khiêm gắn liền với quan niệm sống lành vững tốt đẹp của nhân dân.

    Bài thơ Nhàn bao quát toàn bộ triết trí, tình cảm, trí tuệ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, bộc lộ trọn vẹn một nhân cách của bậc đại ẩn tìm về với thiên nhiên, với cuộc sống của nhân dân để đối lập một cách triệt để với cả một xã hội phong kiến trên con đường suy vi thối nát. Bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.

  2. Câu 1: Nghị luận

    Câu 2: Đi trên những con đường mới và thử làm những cái mới với tinh thần cầu tiến và chấp nhận thử thách, thế giới thật sự là một địa bàn rộng lớn và có vô số công việc để làm.

    Câu 3: 

    -Với những người này thì thế giới cũng chật hẹp giống như những lối mòn quen thuộc của họ và công việc của họ cũng hạn chế như những thói quen của họ vậy → biện pháp so sánh, giúp sự vật, hiện tượng được tăng sức gợi hình, gợi cảm cho lời văn

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )