Môn Văn Lớp: 10 Lm văn nghị luận bình Ngô Đại cáo

Question

Môn Văn Lớp: 10 Giúp em bài này với ạ: Lm văn nghị luận bình Ngô Đại cáo No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Arya 2 tuần 2021-09-12T12:52:36+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Nguyễn Trãi danh nhân văn hóa thế giới, ông để lại sự nghiệp sáng tác đồ sộ. Bình Ngô đại cáo là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Nguyễn Trãi. Tác phẩm là bản tổng kết cuộc kháng chiến chống quân Minh đầy gian lao mà cũng vô cùng hào hùng của dân tộc.

      Sau khi quân ta đại thắng, tiêu diệt và làm tan rã mười lăm vạn viện binh của giặc Minh, tướng giặc Vương Thông buộc phải giảng hoà, chấp nhận rút quân về nước. Cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, chấm dứt hai mươi năm thảm khốc dưới ách đô hộ của giặc Minh, mở ra kỉ nguyên hoà bình lâu dài cho dân tộc. Nguyễn Trãi thừa lệnh chủ soái Lê Lợi viết Đại cáo bình Ngô. Đây là một bản tổng kết về cuộc kháng chiến vĩ đại để báo cáo rộng rãi cho toàn dân được biết. 

      Nguyễn Trãi mở đầu bài cáo bằng đạo lí nhân nghĩa được xây dựng trên nền tảng là tư tưởng thân dân mà ông rất coi trọng:

                  Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân,

                  Quân điếu phạt trước lo trừ bạo.

       Nhân nghĩa là mối quan hệ giữa con người với con người được xây dựng bằng tình thương yêu và đạo lí. Điều đáng nói hơn nữa là Nguyễn Trãi đã đưa vào tư tưởng nhân nghĩa một nội dung mới rút ra từ thực tiễn của lịch sử dân tộc. Theo ông, yên dân trước hết là phải trừ bạo để cho dân được sống yên lành, hạnh phúc trong một đất nước độc lập, hoà bình. Trong bài văn này cũng như trong các tác phẩm khác của Nguyễn Trãi, không chỉ là dân đen, con đỏ chung chung mà đã cụ thể ra là manh, lệ (kẻ đi cày, người đi ở), là dân mọn nơi xóm làng, là nhân dân lao động ở khắp bốn phương đất nước. Giặc giày xéo đất nước đồng nghĩa với giày xéo nhân dân. Lo nước tức lo dân, thương nước tức thương dân, cứu nước tức cứu dân. Nước và dân là một. Nhân nghĩa không còn hạn hẹp trong phạm vi đạo đức mà đã là một lí tưởng xã hội, một đường lối chính trị lấy dân làm gốc làm chỗ dựa. Vì thế phải chăm lo cho dân chúng được no ấm, bình yên. Tư tưởng nhân nghĩa gắn liền với sự nghiệp chống xâm lược. Nhân nghĩa là chống xâm lược, chống xâm lược là nhân nghĩa. Như vậy là Nguyễn Trãi đã bóc trần luận điệu nhân nghĩa xảo trá của địch và phân định rạch ròi ta là chính nghĩa, giặc là phi nghĩa. Dân tộc ta vùng lên chiến đấu chống xâm lược là phù hợp với đạo lí nhân nghĩa, cho nên sự tồn tại có chủ quyền độc lập của quốc gia Đại Việt cũng là một chân lí khách quan.

       Sau đó, Nguyễn Trãi viết tiếp bằng giọng văn hào hùng, thể hiện lòng tự hào, tự tôn về đất nước có một nền văn hiến lâu đời:

                 Như nước Đại Việt ta từ trước,

                 Vốn xưng nền văn hiến đã lâu.

                 Núi sông bờ cõi đã chia,

                 Phong tục Bắc Nam cũng khác.

                 Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập,

                 Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương

                 Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau,

                 So hào hào kiệt đời nào cũng có

       Đại Việt là một đất nước có cương vực, ranh giới rõ ràng , từ lâu đời đã song song tồn tại cùng các quốc gia phương Bắc. Phong tục tập quán cũng khác hẳn phương Bắc. Các triều đại vua Nam xưng đế, hùng cứ một phương, chứ không phải là chư hầu. Truyền thống văn hiến có tự ngàn năm cùng với hào kiệt đời nào cũng có đã khẳng định Đại Việt là quốc gia có chủ quyền độc lập, tự do .So với bài Thơ Thần của Lí Thường Kiệt thì Đại cáo binh Ngô thực sự là một bước tiến dài của Nguyễn Trãi trong việc hoàn chỉnh khái niệm về quốc gia và dân tộc. Lí Thường Kiệt với bài Thơ Thần cũng nhấn mạnh chủ quyền dân tộc ở lãnh thổ riêng biệt, ở ý chí độc lập thể hiện trong việc xưng đế, trong sức mạnh đánh bại quân xâm lược để bảo vệ nền độc lập ấy. Nhưng Nguyễn Trãi đã nâng cao khái niệm đó lên rất nhiều. Các vua Nam cũng xưng đế chẳng khác gì các đời vua của Trung Quốc: mỗi bên xưng đế một phương, hoàn toàn ngang hàng, bình đẳng. Nguyễn Trãi cũng nói đến bờ cõi riêng biệt, nhưng không viện đến quy định của trời mà nói đến truyền thống văn hiến, tức nói đến nền văn hoá của con người sống trên bờ cõi đó, có nghĩa là nói đến một dân tộc với đầy đủ tư cách độc lập. Như vậy, chủ quyền của quốc gia Đại Việt là một chân lí tất nhiên, không có bạo lực nào xâm phạm nổi. Tác giả đã chứng minh cho đạo lí nhân nghĩa bằng chính những chứng cứ còn ghi trong lịch sử:

                   Vậy nên:

                   Lưu Cung tham công nên thất bại,

                   Triệu Tiết thích lớn phải tiêu vong.

                   Cửa Hàm Tử bắt sống Toa Đô,

                   Sông Bạch Đằng giết tươi Ô Mã.

                   Việc xưa xem xét,

                   Chứng cớ còn ghi.

       Sự thất bại thảm hại của Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã Nhi được tác giả đưa ra để nhấn mạnh ý: Những thế lực phi nghĩa ắt phải tiêu vong, đồng thời khẳng định chiến thắng luôn đứng về phía những người đấu tranh cho chính nghĩa. Cách lập luận của Nguyễn Trãi trong đoạn này thật hùng hồn và sắc sảo. Chỉ bằng hai mươi bốn câu, với những chi tiết cụ thể và nhận định khái quát, tác giả đã vẽ ra thảm cảnh của dân tộc Đại Việt dưới ách đô hộ của giặc Minh. Cả đất nước chỗ nào thịt da cũng như rướm máu, chỗ nào cũng vang lên tiếng thét căm giận, oán than. Nguyễn Trãi đã viết nên một bản cáo trạng đanh thép kết tội bọn bán nước và quân cướp nước. Trước hết, tác giả vạch trần âm mưu xâm lược, sau đó lên án chủ trương cai trị thâm độc và cuối cùng là tố cáo mạnh mẽ những hành động tội ác của giặc Minh:

                    Vừa rồi:

                    Nhân họ Hồ chính sự phiền hà,

                    Để trong nước lòng dân oán giận.

                    Quân cuồng Minh thừa cơ gây hoạ,

                    Bọn gian tà bán nước cầu vinh.

       Nguyễn Trãi vạch trần âm mưu cướp nước Đại Việt của giặc Minh đã có từ lầu, đồng thời vạch trần luận điệu bịp bợm “phù Trần diệt Hồ”, để “mượn gió bẻ măng” của chúng. Việc nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần chỉ là một nguyên nhân, đúng hơn chỉ là một cái cớ để giặc Minh thừa cơ gây hoạ. Những từ như nhân (nhân dịp), thừa cơ đã góp phần phơi bày luận điệu giả nhân giả nghĩa của chúng. Điều đáng lưu ý là khi vạch rõ âm mưu xâm lược của nhà Minh, Nguyễn Trãi đã đứng trên lập trường dân tộc, nhưng khi tố cáo chủ trương cai trị thâm độc và tội ác của giặc thì Nguyễn Trãi đứng trên lập trường nhân nghĩa:

    Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn,

    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ.

       Ông đã tố cáo tội ác của chúng bằng hai hình ảnh rất ấn tượng: nướng dân đen, vùi con đỏ, vừa diễn tả một cách rất cụ thể tội ác man rợ kiểu trung cổ của lũ giặc, vừa mang tính khái quát như khắc vào bia căm thù để muôn đời người dân nước Việt nguyền rủa quân xâm lược bạo tàn. Ở Đại cáo bình Ngô, Nguyễn Trãi không đi sâu vào việc tố cáo chủ trương đồng hoá thâm độc mà tố cáo những chủ trương cai trị phản nhân đạo của giặc Minh. Chúng không chỉ vơ vét hết các sản vật quý báu mà còn bóc lột sức người, sức của bằng thuế má, phu phen, dâng nạp cống vật và huỷ hoại cả môi trường sống, tàn sát dân chúng vô tội không biết ghê tay. Người dân nước Nam sống trong tình cảnh bi đát đến cùng cực. Cái chết đợi họ trên rừng, dưới biển, đúng như lời bài cáo đã nêu:

                  Dối trời lừa dân đủ muôn nghìn kế,

                  Gây binh kết oán trải hai mươi năm.

                  Bại nhân nghĩa nát cả đất trời,

                  Nặng thuế khoá sạch không đầm núi.

                  Người bị ép xuống biển dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập, thuồng luồng.

                  Kẻ bị đem vào núi đãi cát tìm vàng, khốn nỗi rừng sâu nước độc.

                  Vét sản vật, bắt chim trả, chốn chốn lưới chăng,

                  Nhiễu nhân dân, bẫy hươu đen, nơi nơi cạm đặt.

                  Tàn hại cả giống côn trùng cây cỏ,

                  Nheo nhóc thay kẻ goá bụa khốn cùng.

       Đối lập với thảm cảnh của người dân vô tội là hình ảnh kẻ thù xâm lược hung hãn, man rợ: Thằng há miệng, đứa nhe răng, máu mỡ bấy no nê chưa chán. Câu văn đã khắc hoạ bộ mặt quỷ sứ khát máu của quân xâm lược. Để diễn tả tội ác chất chồng của giặc và khối căm hờn sôi sục của nhân dân ta, Nguyễn Trãi đã kết thúc bản cáo trạng bằng hai câu văn mang ý nghĩa khái quát rất cao:

                    Độc ác thay, trúc Nam Sơn không ghi hết tội,

                    Dơ bẩn thay, nước Đông Hải không rửa sạch mùi.

       Tác giả đã lấy cái vô hạn (trúc Nam Sơn) để so sánh với cái vô hạn (tội ác của giặc), dùng cái vô cùng (nước Đông Hải) để nói cái vô cùng (sự dơ bẩn của kẻ thù). Câu văn đầy hình tượng ấy đã giúp chúng ta cảm nhận sâu sắc tội ác của giặc Minh xâm lược. Dân tộc ta chỉ còn con đường duy nhất là đứng lên hành động:

                   Lẽ nào trời đất dung tha,

                   Ai bảo thần nhân chịu được?

       Lời văn trong bản cáo trạng vừa hùng hồn, vừa thống thiết. Khi thì uất hận trào sôi, khi thì cảm thương da diết; lúc muốn thét thật to, lúc nghẹn ngào, căm tức. Tất cả cùng một lúc diễn tả những cung bậc khác nhau trong tâm tư tình cảm của Nguyễn Trãi. Đại cáo bình Ngô chứa đựng những nội dung thiết yếu của một bản “tuyên ngôn độc lập” bởi chính những nội dung đã phân tích ở trên.

    Vậy sức mạnh nào đã giúp nghĩa quân Lam Sơn vượt qua những khó khăn nói trên? Trước hết, nghĩa quân có sức mạnh của tư tưởng nhân nghĩa, của ý thức dân tộc, của mục đích chiến đấu là nhằm mưu cầu hạnh phúc cho nhân dân, bảo vệ nền độc lập và truyền thống văn hiến lâu đời của quốc gia Đại Việt. Sau đó, yếu tố quan trọng quyết định thắng lợi của cuộc khởi nghĩa là tài trí mưu lược, phẩm chất anh hùng của Lê Lợi. Ông thể hiện rất rõ vai trò của một bậc minh chủ: căm thù giặc sâu sắc, tự tin, tự nguyện đặt vận mệnh của quốc gia, dân tộc lên vai mình.

       Với nghệ thuật chính luận tài tình, với cảm hứng trữ tình sâu sắc, Đại cáo bình Ngô tố cáo tội ác kẻ thù xâm lược, ca ngợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Trên cơ sở chân lí chính nghĩa tất thắng, Nguyễn Trãi đã viết nên áng “thiên cổ hùng văn”, giống như một tượng đài chiến thắng hoành tráng, cao vút giữa bầu trời nước Việt.

                  

  2. MB

    Giới thiệu tác giả, tác phẩm

    – Tác giả: Nguyễn Trãi là nhà quân sự tài ba, là nhà thơ với sự nghiệp sáng tác đồ sộ.

    – Tác phẩm: “Bình Ngô Đại Cáo” tựa bản tuyên ngôn hùng hồn của dân tộc được viết vào khoảng cuối năm 1428..

    Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận: tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi.

    TB

    – Khái quát chung về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm 

    Nghị luận tác phẩm

     Tiền đề lí luận

    * Tư tưởng nhân nghĩa:

    – Nhân nghĩa trong tư tưởng Nho giáo: mối quan hệ giữa người với người trên cơ sở tình thương và đạo lí.

    – Nhân nghĩa trong tư tưởng Nguyễn Trãi:

    + Kế thừa tư tưởng Nho giáo: làm cho dân hạnh phúc (“yên dân”).

    + Tư tưởng mới: vì dân mà trừ bạo tàn (“ trừ bạo”)

    -> Tư tưởng nhân nghĩa không bị bó hẹp trong phạm vi Nho giáo mà được mở rộng ra. Phân biệt rõ ràng ta là chính nghĩa, giặc Minh là phi nghĩa.

    * Chân lí về độc lập dân tộc

    – Dẫn chứng thuyết phục: văn hiến lâu đời, lãnh thổ riêng, phong tục phong phú, lịch sử lâu đời.

    -> Khẳng định tư cách độc lập là chân lí không thể chối cãi.

    – Từ ngữ: “ từ trước”, “ đã lâu”, “ vốn xưng”, “ đã chia”

    -> Khẳng định sự tồn tại hiển nhiên của đất nước ta.

    – Thái độ của Nguyễn Trãi:

    + So sánh ngang bằng triều đại Đại Việt và Trung Hoa.

    + Gọi vua Đại Việt là “ Đế” ( vua phương Bắc trước nay chỉ gọi ta là Vương)

    -> Ý thức chủ quyền độc lập cao độ.

    – Phép liệt kê: Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô,…

    -> Lời cảnh cáo đanh thép về kết cục của kẻ chống lại chân lí.

     Soi chiếu lí luận vào thực tiễn

    * Tội ác của giặc Minh:

    – Xâm lược: bịp bợm với ý đồ cướp nước ta  ( “ nhân”, “ thừa cơ”)

    – Bóc lột nhân dân:

    + Tàn sát người vô tội (“ nướng dân đen”, “ vùi con đỏ”)

    + Vơ vét tài nguyên nước ta.

    + Phá hoại môi trường, tự nhiên sinh thái của ta.

    -> Hình ảnh kẻ thù đối lập với nhân dân ta.

    -> Nỗi xót xa với nhân dân và căm phẫn với kẻ thù.

    *Lòng căm thù giặc của nhân dân:

    – Nghệ thuật phóng đại: “Trúc Năm Sơn…rửa sạch mùi”

    -> Ví sự tội ác giặc với sự vô cùng của tự nhiên.

    – Câu hỏi tu từ: “Lẽ nào…chịu được”

    -> Thái độ căm phẫn của nhân dân.

     Diễn biến cuộc khởi nghĩa

    *Hình tượng người anh hùng Lê Lợi:

    – Xuất thân: nông dân.

    – Căn cứ khởi nghĩa: “núi Lam Sơn dấy nghĩa”

    – Lòng căm thù giặc sâu sắc: “ căm giặc nước thề không cùng sống”

    – Lí tưởng lớn, biết trọng người tài: “Tấm lòng cứu nước…dành phía tả”

    -> Lê Lợi hiện lên vừa bình dị vừa có cốt cã cách của bậc anh hùng.

    *Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn:

    – Giai đoạn đầu:

    + Khó khăn về vật dụng quân trang cũng như lương thực thực phẩm.

    + Tính thần của quân và dân: gắng chí, quyết tâm.

    – Giai đoạn phản công và giành thắng lợi: biện pháp liệt kê tái hiện không khí chiến đấu sôi sục và sự chiến thắng giòn giã của ta.

    – Sự thất bại nhục nhã của giặc:

    + Cởi áo giáp xin hàng (Thượng Hoàng Thư Phúc)

    + Nghệ thuật phóng đại: “ thây chất đầy nội, nhơ để ngàn năm”

    – Cách ứng xử nhân đạo của quân ta: “ Thần vũ chẳng giết hại…nghỉ sức”

    -> Niềm tự hào, tự tôn dân tộc sâu sắc của Nguyễn Trãi.

     Niềm tin của nhân

    – Tuyên bố đất nước hoà bình, mở ra kỉ nguyên mới.

    – Giọng điệu hào sảng -> Niềm tin của Nguyễn Trãi.

    – Hình ảnh về tương lai đất nước: “ xã tắc từ đây…vững chắc”

    -> Lòng lạc quan về sự nghiệp xây dựng đất nước.

    Tổng kết

    – Nội dung: Tác phẩm khẳng định chân lí độc lập của dân tộc và thay mặt vua Lê, tuyên cáo thành lập triều đại mới.

    – Nghệ thuật: thể cáo được vận dụng tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính trị và chất văn chương, biện pháp liệt kê, phóng đại,…

    KB:

    Khẳng định giá trị của tác phẩm “Bình Ngô Đại Cáo” và tài năng của Nguyễn Trãi.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )