Môn Văn Lớp: 10 Giúp mik với Em hãy phân tích 14 câu tiếp của đoạn trích trao duyên

Question

Môn Văn Lớp: 10 Giúp em bài này với ạ: Giúp mik với
Em hãy phân tích 14 câu tiếp của đoạn trích trao duyên No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Gianna 3 tuần 2022-04-06T16:15:21+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Bài này của mình nha(no copy)

    Trong văn học trung đại, hầu như tác phẩm nào cũng mang những nỗi lòng u uất, những tâm trạng thổn thức đến bất an. Việc miêu tả nội tâm nhân vật chính là hơi thở, giá trị của tác phẩm, là hiện thực cuộc sống và và xã hội, là những trắc ẩn dường như đến mênh mông…Mỗi tác giả lại có 1 cách khác nhau để xây dựng thế giới nôi tâm ấy, nhưng hãy dừng lại 1 chút ở Truyện Kiều, lắng nghe tiếng nói tâm trạng ta sẽ thấy được những nét chấm phá rất nghệ thuật, rấ t Nguyễn Du. Một thế giới nội tâm trong thơ ông là buồn vui trước thiên nhiên và cuộc sống phức tạp xung quanh, là con người, là hiện thực xã hội tỏng thơ. Dến với đoạn trích Trao Duyên, ta cảm nhận thấy rõ điều ấy:

                                                  Chiếc vành với bức tờ mây

                                               Rưới xin giọt nước cho người thác oan

    Khi tình yêu giữa Thúy Kiều và Kim Trọng đang diễn ra tươi đẹp và đằm thắm thì thình lình tai biến lại dồn đến. Sau khi thu xếp mọi việc bán mình để cứu cha và em, ngày mai nàng sẽ phải theo Mã Giám Sinh rời khỏi nhà. Đêm ấy, Kiều không đành lòng với tình cảnh dang dở cùng Kim Trọng nên cuối cùng, sau khi tìm cách thuyết phục và trao duyên cho em, khi thấy Vân đã cảm thông, Thúy Kiều đem từng kỉ vật trao tình yêu giữa mình và Kim Trọng ra trao cho em gái:

    ”Chiếc vành với bức tờ mây

    Duyên này thì giữ vật này của chung

    Dù em nên vợ nên chồng

    Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên

    Mất người còn chút của tin

    Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”
    Thúy Kiều từ từ trao lại những kỉ vật tình yêu “chiếc vành”, ”bức tờ mây” rồi đến ”phím đàn”, ”mảnh hương nguyền” cho Thúy Vân. Kiều đưa cùng một lúc nhưng là đưa từng món một. Mỗi món đều gắn với một kỉ niệm, mang một ý nghĩa của mối tình nồng nàn. Tưởng như Thúy Kiều vừa trao vừa ngập ngừng ngắm nghía lại từng kỉ vật, nhớ lại từng kỉ niệm với nỗi lòng nuối tiếc khôn nguôi cho mối tình tươi thắm ngày nào. Với Vân, có thế đó là những vật vô tri, nhưng với Kiều mỗi kỷ vật là cả một trời ký ức, là nhân chứng cho một tình yêu hạnh phúc, là lời thề nguyền gắn bó trăm năm… gắn liền với những ngày đẹp nhất đời Kiều. Khi đã gửi gắm tất cả lại cho Thúy Vân, nàng căn dặn em ”Duyên này thì giữ vật này của chung”.

        ”Duyên này” là duyên giữa Thúy Vân và Kim Trọng, chứ phần của Kiều kể như đã hết. Chị đã trao duyên lại cho em nhưng những kỉ vật này thì xin em hãy coi là ”của chung” bởi còn có một phần là của chị. Lúc Kiều kể về mối tình của mình cho Vân nghe, giọng điệu của nàng vẫn bình tĩnh, nhưng đến lúc trao kỉ vật, nàng cảm thấy mình đã mất hết nên không thể kìm nén được cảm xúc đang dậy sóng trong lòng. Nàng tiếc nuối, đau đớn khi có người thứ ba chia sẻ. Trái tim bắt đầu lên tiếng. Cảnh ngộ bắt Kiều phải ”lỗi thề” nhưng trong đáy lòng nàng đâu dễ để có thể nguôi đi được lời thề xưa và đoạn tuyệt tình cũ được. Đầy xót xa sầu tủi, trong đau đớn tận cùng, Thúy Kiều phải chăng vẫn giữ lấy một chút an ủi nhỏ nhoi.

        Những tưởng rằng trao xong ”duyên” là lòng nhẹ bẫng không còn vướng bận, con đường phía trước sẽ không còn gì níu kéo nhưng ai ngờ trong tâm hồn Kiều lại chứa đựng bao nhiêu sự giằng xé, cố níu kéo, đau đớn. Rõ ràng, lí trí bắt buộc Kiều phải dứt tình với chàng Kim nhưng tình cảm của nàng lại không thể tuân theo một cách dễ dàng. Nỗi đau như đọng lại ở câu thơ “dù em nên vợ nên chồng” – Kiều tự thấy mình đáng thương, mình là người mệnh bạc để người khác phải xót xa thương hại. ”Mất người còn chút của tin” Kiều chỉ có thể trao duyên còn tình nàng vẫn không thể trao, nàng không thanh thản, nàng đau đớn đến nỗi nghĩ tới cái chết. Nàng dùng dằng, gửi gắm tất cả lại cho Thúy Vân rồi tâm trạng mâu thuẫn thật sự trong lòng nàng mới bùng lên mạnh mẽ nửa muốn trao, nửa muốn giữ. Nàng đã mất bao công sức để thuyết phục em nhưng chính lúc em chấp nhận cũng là lúc Kiều bắt đầu chơi vơi cố níu tình yêu lại với mình. Sau đó Kiều để mặc cho tình cảm tuôn tràn. 

        Nhưng có điều đặc biệt nằm ở chữ ”giữ” và ”của chung”. ”Giữ” không có nghĩa là trao hẳn mà chỉ là đưa cho em ”giữ” hộ. Còn chữ ”của chung” lại thể hiện tâm lí là Kiều không đành lòng trao tất cả lại cho em. Những chữ đó chứng tỏ tình yêu của nàng và Kim Trọng thật nồng nàn, sâu sắc. Tuy nhiên, Kiều vẫn trao duyên cho em, khẳng định Thúy Kiều đã đặt hạnh phúc của người mình yêu lên trên hết. Đoạn thơ là một tiếng nấc chứa đầy tâm trạng của nàng khi ấy, khiến người đọc cảm thấy đau lòng. Đó cũng là tài năng miêu tả tâm lí độc đáo của đại thi hào dân tộc Nguyễn Du

       Quá đắng cay cho số phận của mình, thấy rõ là mình mệnh bạc, tất cả đã thành quá khứ, Thúy Kiều nghĩ đến một mai sau mù mịt, đau thương khi mình đã chết. Hơn lúc nào hết, ý nghĩ cứ hiện ra và rõ nét dần

    ”Mai sau dù có bao giờ 

    Đốt lò hương ấy so tơ phím này 

    Trông ra ngọn cỏ lá cây 

    Thấy hiu hiu gió thì hay chị về 

    Hồn còn mang nặng lời thề 

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai”

        Đoạn thơ như một lời chiêu hồn buồn thẳm, một hơi thơ khác hẳn với lúc bắt đầu Trao duyên. Đây vẫn là những lời tâm sự của Thúy Kiều với Kim Trọng mà sao lời lẽ bất chợt trở nên xa lắng, mù mịt, phảng phất ma mị như từ cõi bên kia vọng về đến thế. Hàng loạt từ nói về cái chết: âm điệu chập chờn, hư ảo, thời điểm không xác định ”mai sau”, ”bao giờ”, không khí linh thiêng ”đốt lò hương”, ”so tơ phím”, hình ảnh phất phơ, ma mị ”ngọn cỏ lá cây”, ”hiu hiu gió”,… bắt đầu từ đây Kiều mới thực sự cảm nhận được cái bi kịch của đời mình, bi kịch của sự mất mát, bi kịch của nỗi cô đơn. Nàng cảm thấy mình thật đáng thương. Tâm thức đang chìm dần trong nỗi đau khôn nguôi.

        Nàng tưởng tượng đến cảnh sum họp của Trọng – Vân, còn mình chỉ là linh hồn ”xương trắng quê người” vật vờ cô độc, bất hạnh nhưng vẫn ”mang nặng lời thề”, vẫn khát khao mong muốn được theo làn gió nhẹ ”hiu hiu” trên ”ngọn cỏ lá cây” để trở về cõi thế gặp lại người thương yêu. Duyên tình của Kiều đã hết, kỉ vật tình yêu cũng đã trao cho em, nhưng hồn của nàng vẫn chưa dứt nổi chàng Kim, còn mang nặng lời thề trăm năm gắn bó. Thế mới biết nàng có tình yêu thủy chung, mãnh liệt đến mức nào. Nàng trở nên cô đơn, tuyệt vọng, dự cảm được tương lai đầy bất hạnh của chính mình. Nghĩ đến đấy, Thúy Kiều tha thiết dặn em:

    ”Dạ đài cách mặt khuất lời 

    Rưới xin giọt nước cho người thác oan”

        Nay lo cho người đã xong, nàng mới nghĩ đến mình và thấy mình mệnh bạc. ”Dạ Đài” là nơi âm phủ tăm tối, trong cảnh ngộ ”cách mặt khuất lời” linh hồn Thúy Kiều vẫn khao khát nhận được sự cảm thông, tưởng nhớ của những người yêu thương nên chỉ xin Trọng một ”chén nước” để làm phép tẩy oan. Điều đó chứng tỏ Thúy Kiều vẫn khao khát được trở về cõi thế để chứng minh cho ty bất diệt của mình. Hồn của nàng còn ‘mang nặng lời thề’ nên dù có chết đi cũng chẳng thể siêu thoát. Nàng đau đớn, sợ hãi trước tương lai mù mịt…Thế mới thật sự là giằng xé, thật sự là bi kịch. 

    Dưới ngòi bút tài hoa sắc sảo của Nguyễn Du, Thúy Kiều hiện lên rất rõ là một cô gái nhạy cảm, vị tha và giàu lòng yêu thương. Qua nghệ thuật miêu tả nội tâm tài tình thông qua lời đối thoại và độc thoại, nỗi đau và tâm hồn của Kiều càng được thể hiện tinh tế, khắc họa sinh động, sâu sắc và đầy xúc cảm tâm trạng của Thúy Kiều khi tình yêu tan vỡ, nỗi đau đớn của người con gái bất hạnh này
    Đoạn trích là những dòng thơ thể hiện bi kịch tình yêu bậc nhất trong Truyện Kiều. Qua đó, bộc lộ phẩm chất cao quý của Thúy Kiều trong tình yêu. Trước sự tan vỡ của tình yêu, nàng làm tất cả những gì có thể làm được để người mình yêu được hạnh phúc nhưng người đau khổ nhất vẫn là nàng. Nhờ thế mà đoạn trích đã thể hiện được tư tưởng nhân đạo của Nguyễn Du: nỗi cảm thông sâu sắc đối ới những đau khổ và khát vọng hạnh phúc, tình yêu của con người.

  2. I, MB: Nguyễn Du là nhà thơ kiệt xuất của văn học Việt Nam. Đọc văn chương của Nguyễn Du, dù chữ Hán hay chữ Nôm ta đều tháy ông “có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”. ‘Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và cũng là kiệt tác số một của văn học nước nhà. Thúy Kiều- nhân vật trung tam của truyện được sáng tạo từ cảm hứng nhân đạo sâu sắc của tác giả. Nhưng Kiều cũng là nạn nhân, là hiện thân  nỗi đau của những con người tài hoa, đức hạnh, có phẩm giá nhưng bị xã hội phong kiến chà đạp. ‘Trao duyên” là một tỏng những nỗi đau đó của Kiều.  Đặc biệt 14 câu thơ giữa của đoạn trích đã làm nổi bật tấn bi kịch ấy. 

    II, TB:

     1, Khái quát chung 

    – Vị trí: Là đoạn thơ mở đầu cho cuộc đời lưu lạc đau khổ của Thuý Kiều. Tình huống của Kiều là tình huống trao duyên. Trích từ câu 723 đến câu 756 trong Truyện Kiều là lời Thuý Kiều nói với Thuý Vân

    – Nội dung đoạn trích: Thúy Kiều trao kỉ vật và dặn dò em

    2, Phân tích 

    – Thuý Kiều nói với Thuý Vân: “Duyên này thì giữ / vật này của chung” ->Tình duyên thuộc về Thuý Vân/ Kỉ vật là của hai người

    – Nhịp thơ 4/4 đứt đoạn như tiếng khóc. Đó là ngôn ngữ của tình cảm! → Thuý Kiều trao duyên nhưng không trao tình.

    – Kỉ vật được nhắc đến: + Chiếc vành + Tờ mây + Phím đàn + Mảnh hương → Minh chứng cho tình yêu say đắm của Kim – Kiều trước đây.

    – “Của chung”: của chàng, của chị, nay còn là của em.

    – “Của tin” niềm tin, hồn chị để cả ở trong ấy. Đó là Tâm trạng nuối tiếc, đau đớn vì phải chia li với mối tình đẹp đẽ, lãng mạn.

    – Trong lời dặn dò em, Kiều cho mình là người “mệnh bạc”; Nhiều lần Kiều nhắc đến cái chết cho thấy tâm trạng bi kịch, nỗi đau đớn tột cùng và sự tuyệt vọng của Kiều lúc trao duyên. Kiều tự coi mình là người mệnh bạc, người có số phận bạc bẽo, không may, dầy bất hạnh, không thoát ra đượcnó giống như 1 định mệnh. Vì vậy mà lòng Kiều thổn thức, tiếc nuối, não nề, xót xa

    + Kiều hình dung về tương lai mù mịt của mình

    + Kiều tưởng tượng ra cảnh mình chết oan, chết hận: hồn tả tơi , vật vờ trong gió, không siêu thoát được nhưng vẫn mang nặng lời thề

    + Kiều dằn vặt, lâm li, ai oán, nửa tỉnh nửa mê, lời nói phảng phất như từ cõi âm vọng về

    => Nỗi đau, điều suy nghĩ của Thuý Kiều rất đời thường, rất nhân bản.Nhà thơ đã nhập thân vào nhân vật để hiểu và thể hiện thành công nội tâm nhân vật. 

    3. Đánh giá chung

    – Đoạn thơ là một bi kịch vì mâu thuẫn nội tâm nhân vật càng lúc càng căng thẳng, cuối cùng dẫn đến bế tắc, bi đát. Cái thần của đoạn trích: Trao duyên mà chẳng trao được tình! Đau khổ vô tận! Cao đẹp vô ngần! (Lòng vị tha, đức hi sinh)

    III, KB: 

    – Ý nghĩa văn bản: thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận đau khổ và nhân cách cao quý của Kiều

    – Nghệ thuật: Miêu tả nội tâm độc đáo, ngôn ngữ giàu hình ảnh sinh động.

    *Bài làm

    Nguyễn Du là nhà thơ kiệt xuất của văn học Việt Nam. Đọc văn chương của Nguyễn Du, dù chữ Hán hay chữ Nôm ta đều tháy ông “có con mắt trông thấu sáu cõi và tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”. ‘Truyện Kiều” là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông và cũng là kiệt tác số một của văn học nước nhà. Thúy Kiều- nhân vật trung tam của truyện được sáng tạo từ cảm hứng nhân đạo sâu sắc của tác giả. Nhưng Kiều cũng là nạn nhân, là hiện thân  nỗi đau của những con người tài hoa, đức hạnh, có phẩm giá nhưng bị xã hội phong kiến chà đạp. ‘Trao duyên” là một tỏng những nỗi đau đó của Kiều.  Đặc biệt 14 câu thơ giữa của đoạn trích đã làm nổi bật tấn bi kịch ấy.

    Từ trước đến nay “trao duyên” thường mang sắc thái tình cảm; là dấu hiệu của niềm vui mừng; hạnh phúc của đôi lứa dành cho nhau ấy thế nhưng trong văn học xưa lại có cái “trao duyên” đầy đớn đau, bẽ bàng. Đó là cảnh trao duyên của chị em Thúy Kiều, Thúy Vân. Bằng ngòi bút đặc tả, Nguyễn Du đã vẽ nên một bức tranh thấm đẫm nước mắt.

    Đoạn trích “Trao duyên” trải dài từ câu 723-756 của bài thơ kể về cuộc đời gian truân; kiếm đoạn trường; gia biến và lưu lạc của cô gái tài sắc Thúy Kiều. 18 câu thơ đầu của đoạn trích như tiếng nấc lòng nghẹn ngào đầy u sầu của Thúy Kiều khi gửi lại tấm chân tình của mình nhờ em là Thúy Vân nối tiếp cùng Kim Trọng.

    Sau khi nhờ cậy Vân trả nghĩa cho Kim Trọng, Thúy Kiều trao kỉ vật tình yêu lại cho Vân:

    “Chiếc vành với bức tờ mây

    Duyên này thì giữ vật này của chung”

         “Chiếc vành”, “tờ mây” là những kỉ vật minh chứng cho tình yêu cũng là lời thề ước của Kim Trọng và Thúy Kiều. Kỉ vật của một mối tình đẹp mà Kiều không nỡ rời xa nay đành gửi gắm tất cả lại cho Vân. Đồ vật thì có thể trao lại cho người khác, nhưng còn tình cảm thì làm sao gửi gắm được, tình yêu giữa hai người đâu phải muốn cho ai là cho. Đó là thứ tình cảm thiêng liêng giữa Kiều và chàng Kim, không thể có người thứ ba xen vào. “Duyên này thì giữ” là trao kỉ vật nhưng không thể quên được kỉ niệm điều đó chứng tỏ tình yêu sâu đậm, nồng nàn của  Kim – Kiều. “Của chung” là vật từng là của riêng Kim và Kiều, nay là của chung Kim, Kiều, Vân, nó gợi được sự đau đớn và tiếc nuối. Nguyễn Du có lẽ đang oán cái chế độ xã hội tàn bạo, cổ hủ khiến cho một tình yêu thiêng liêng, mặn nồng như thế phải tan vỡ. 

         Kỉ vật đã trao lại cho em, Kiều nhắc nhở Vân những lúc hạnh phúc ở bên người yêu thì đừng quên chị:

    Dù em nên vợ nên chồng

    Xót người mệnh bạc ắt lòng chẳng quên

    Mất người còn chút của tin

    Phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”

         Trao kỉ vật lại cho em cũng nhằm để cho em nhớ đến mình, nàng tự coi mình là “mệnh bạc” để người khác xót xa thay cho thân phận mình. Sợi tơ duyên đẹp đẽ ngày nào đã mất đi thì sống trên đời cũng chẳng còn nghĩa lý gì. Kiều chỉ mong rằng Thúy Vân còn giữ kỉ vật cũng như nhớ về người chị “mệnh bạc” này. Chút níu giữ đó là vật làm tin nay cũng trao đi rồi, còn “phím đàn” ở lại như để mỗi khi ai đó đánh lên sẽ nhớ tới nàng. Bốn câu thơ tiếp theo chính là những dự cảm về cái chết mà Kiều đã sẵn sàng đón nhận:

    “Mai sau dù có bao giờ

    Đốt lò hương ấy so tơ phím này

    Trông ra ngọn cỏ lá cây

    Thấy hiu hiu gió thì hay chị về”

         Tác giả sử dụng từ ngữ mang tính giả định “mai này”, “dù có” để thấy được tưởng tượng của Kiều về cảnh ngộ của mình trong tương lai, Thúy Kiều đã mất niềm tin vào tương lai phía trước. Một người đương tuổi xuân phơi phới nhưng luôn nghĩ về cái chết. Nàng chỉ mong ước duy nhất đó là mai sau Thúy Vân hãy nhớ tới linh hồn của mình để nàng đỡ lẻ loi, hiu quạnh. Khi đàn, khi đốt hương hay khi trông ra ngọn cỏ thì hãy nhớ đến người chị này. Kiều mất niềm tin vào cuộc sống, cho dù chết cũng chỉ biết nương nhờ cỏ cây, vật vờ nơi lá cây ngọn cỏ chứ chẳng biết bám víu vào đâu.

         ​​​​​​​Hồn còn mang nặng lời thề

    Nát thân bồ liễu đền nghì trúc mai

    Dạ đài cách mặt khuất lời

    Rưới xin giọt nước cho người thác oan”

         Hình ảnh “hồn”, “thân bồ liễu”, “ghì trúc mai”,  “dạ đài”, “giọt nước”, “thác oan” gợi ra cuộc sống cõi âm, đầy tâm linh, ma mị. Lời thề, lời hẹn ước mặc dù đã được trao cho em thay mình trả nhưng không có nghĩa là cô đã hoàn toàn trút bỏ, lãng quên. Thậm chí kể cả khi đã chết thì vẫn “mang nặng lời thề”. Nàng tự ví mình như “bồ liễu”, “trúc mai” tuy mảnh mai, yếu đuối nhưng lại thanh cao. Mong muốn được rửa oan khuất khi bị tước mất quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc.

          Bằng nghệ thuật khắc họa, miêu tả nội tâm nhân vật, ngôn ngữ độc thoại sinh động, sử dụng ngôn từ điêu luyện tác giả đã cho người đọc thấy được tâm trạng vật vã, đau đớn rồi ngất đi trong tiếng kêu thảng thốt, ai oán của Thúy Kiều. Đó là tâm trạng đau đớn đến cùng cực của Kiều khi phải nhường lại tình yêu của mình và Kim Trọng. Qua đó thấy được bi kịch mà người phụ nữ xưa phải chịu rất nghiệt ngã. Thời gian trôi qua đã hàng trăm năm nhưng đoạnn trích Trao duyên nói riêng và kiệt tác Truyện Kiều nói chung vẫn còn nguyên giá trị bởi tài năng miêu tả tâm lí nhân vật của Nguyễn Du đã đạt đến đỉnh cao. 

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )