Môn Văn Lớp: 10 Dàn ý 12 câu thơ đầu bài thơ trao duyên lớp 10

Question

Môn Văn Lớp: 10 Giúp em bài này với ạ: Dàn ý 12 câu thơ đầu bài thơ trao duyên lớp 10 No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Anna 2 tuần 2022-04-09T21:16:56+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. A, MB

    – giới thiệu tác giả Nguyễn Du (sách giáo khoa chi tiết)

    – giới thiệu đoạn trích Trao duyên: Đoạn trích “Trao duyên” nằm trong phần Gia biến và lưu lạc, khi Kiều phải ở trong tình thế khó xử là lựa chọn giữa đạo làm con và người mình yêu. Kiều đã đành gửi gắm duyên này của mình cho Thúy Vân và mình thì bán thân chuộc cha và em, làm tròn chữ hiếu.

    – Đoạn trích đã thể hiện được tâm trạng đau khổ, day dứt tột cùng của Kiều.

    B, TB

    12 dòng thơ đầu chính là lời nhờ cậy và hành động thuyết phục Thúy Vân của Thúy Kiều trước khi Kiều quyết định bán mình vào lầu xanh.

    1. Hai câu thơ đầu: chính là lời nhờ cậy Thúy Vân của Thúy Kiều trước khi cô bán mình để chuộc cha và em.

    – Những lí lẽ và hành động của Kiều đã cho thấy được tâm trạng đau khổ của Kiều.

    – Người đọc có thể thấy được lí lẽ thuyết phục và hành động nhờ vả tinh tế của Kiều. Câu thơ ‘Cậy em em có chịu lời” chính là mở đầu của lời lẽ trao duyên.

    – Từ “cậy” là một từ độc đáo, gợi được âm điệu nặng nề, day dứt và khó mở lời của Thúy Kiều. Khác với những từ như “nhờ, mong”, từ “cậy” gợi ra một sự khó mở lời và đau đớn trong lời nói của Thúy Kiều. Người đọc có thể thấy được cùng mang ý nghĩa nhờ vả nhưng từ cậy mang thêm sắc thái về sự hy vọng tha thiết và gửi gắm đầy tin tưởng của Thúy Kiều vào Thúy Vân về điều cô sắp nói.

    – Tiếp theo, từ “chịu” thể hiện sự nài ép, bắt buộc nên Vân buộc phải nhận lời cho điều mà Kiều sắp nói. Câu thơ “Ngồi lên cho chị lạy rồi sẽ thưa” là câu thơ thể hiện cử chỉ trao duyên. “Lạy, thưa” là hành động của người bề dưới đối với người bề trên, thể hiện cho sự tôn kính, nhờ vả, kính cẩn, trang trọng với người bề trên hoặc với người mà mình hàm ơn. Chính vì vậy, hành động của Kiều thể hiện sự khó nói, trang nghiêm và thiêng liêng cho điều mà cô sắp nói với Vân.

    – Đồng thời, người đọc cũng thấy được sự thông minh , khéo léo của Kiều trong quá trình thuyết phục Vân cũng như cách dùng từ của Nguyễn Du.

    2. 10 câu thơ tiếp theo: lời lẽ trao duyên của Kiều.

    – Trong 4 câu thơ tiếp theo, Thúy Kiều đã kể mối tình của mình với chàng Kim cho em nghe. Thành ngữ: “Giữa đường đắt gánh tương tư” và hình ảnh “mối tơ thừa, keo loan” cho thấy một mối tình nồng thắm nhưng mong manh và tràn ngập bất hạnh của Thúy Kiều và Kim Trọng. Những hình ảnh “quạt ước, chén thề” cho thấy một mối tình mà Kiều thực sự coi trọng và giờ đây cô muốn ủy thác cho em.

    – Những câu thơ còn lại chính là những lí do mà Kiều đưa ra để thuyết phục em của mình. Kiều không chỉ gợi lại tai ương đến với gia đình “sóng gió bất kì” mà còn nói ra tình huống khó xử phải lựa chọn giữa đạo làm con và đạo phu thê với em, để rồi Kiều đành chọn hi sinh tình để làm tròn chữ hiếu.

    – Tiếp theo, Kiều gợi ra việc Vân vẫn còn tương lai phía trước, nên hãy vì chị, vì gia đình máu mủ mà giúp chị trả ơn cho chàng Kim. “Ngày xuân em hãy còn dài/ Xót tình máu mủ thay lời nước non”. Ta có thể thấy được Kiều đã dùng tình cảm ruột thịt để thuyết phục em của mình. Đặc biệt, thành ngữ “Thịt nát xương mòn” và “Ngậm cười chín suối” đã nói lên được cái chết mãn nguyện của Kiều.

    – Có lẽ, Kiều đã viện đến cái chết mãn nguyện của mình để thuyết phục em giúp mình. Ta có thể thấy, cách lập luận thấu tình đạt lý của Kiều thể hiện cô là người sắc sảo tinh tế, có đức hi sinh, một người con hiếu thảo, trọng tình nghĩa.

    Tóm lại, 12 câu thơ đầu đã thể hiện được lời lẽ và hành động trao duyên của Thúy Kiều.

    C, KB

    Tóm lại, 12 câu thơ đầu chính là tâm trạng đau khổ của Kiều khi ở trong tình thế buộc phải trao duyên cho em mình.

  2. I. Mở bài

    – Giới thiệu tác giả Nguyễn Du (tên tuổi, vị trí trong nền văn học), tác phẩm Truyện Kiều và đoạn trích Trao duyên.

    – Giới thiệu 12 câu thơ đầu của đoạn trích: Là lời Thúy Kiều nhờ cậy, van xin Thúy Vân thay mình kết duyên cùng Kim Trọng

    II. Thân bài

    1. Lời nhờ cậy của Thúy Kiều (2 câu đầu)

    – Lời nói

       + “Cậy”: Đồng nghĩa với “nhờ” nhưng “cậy” còn bao hàm ý nghĩa gửi gắm, mong đợi, tin tưởng về sự giúp đỡ đó.

       + “Chịu lời”: Đồng nghĩa với “nhận lời” nhưng “nhận lời” nó còn bao hàm sắc thái tự nguyện, có thể đồng ý hoặc không đồng ý, còn “chịu lời” thì bắt buộc phải chấp nhận, không thể từ chối bởi nó mang sắc thái nài nỉ, nài ép của người nhờ cậy.

    – Hành động: “Lạy, thưa”

       + Là hành động của người bề dưới với người bề trên, nhưng ở đây Kiều là chị lại lạy, thưa em mình.

       + Đây là hành động bất thường nhưng lại hoàn toàn bình thường trong hoàn cảnh này bởi hành động của Kiều là lạy đức hi sinh cao cả của Thúy Vân. Bởi vậy, việc Thúy Kiều nhún nhường, hạ mình van nài Thúy Vân là hoàn toàn hợp lí

    → Hành động bất thường đặt trong mối quan hệ với các từ ngữ đặc biệt đã nhấn mạnh tình thế éo le của Thúy Kiều.

    – Hoàn cảnh đặc biệt của Kiều:

       + Thúy Kiều phải tha thiết cầu xin Thúy Vân thay mình kết duyên với Kim Trọng. Kiều biết rằng việc mình đang nhờ Vân ảnh hưởng lớn đến cuộc đời em sau này bởi Thúy Vân và Kim Trọng không có tình yêu.

       + Tâm trạng của Kiều đau khổ, tuyệt vọng bởi người ta có thể trao cho nhau kỉ niệm, đồ vật chứ không ai đi trao đi tình yêu của mình.

    2. Lí lẽ trao duyên của Kiều (10 câu tiếp)

    a. Kiều bộc bạch về tình cảnh của mình.

    – Thành ngữ “đứt gánh tương tư”: chỉ tình cảnh tình duyên dang dở của Kiều, nàng bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát giữa một bên là chữ hiếu một bên là chữ tình nên trao duyên là lựa chọn duy nhất của nàng.

    – Chữ “mặc”: Là sự phó mặc, ủy thác, ủy nhiệm. Kiều đã giao toàn bộ trọng trách cho Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.

    → Cho thấy tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều

    → Là lời thuyết phục khôn khéo của Kiều dấy lên tình thương và trách nhiệm của người em đối với chị của Thúy Vân.

    b. Kiểu kể về mối tình với chàng Kim

    – Hình ảnh “Quạt ước, chén thề”: Gợi về những kỉ niệm đẹp, ấm êm, hạnh phúc của Kim và Kiều với những lời thề nguyền, đính ước gắn bó, thủy chung.

    – “Sóng gió bất kì”: Tai họa bất ngờ ập đến, Kiều bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, phải chọn giữa tình và hiếu. Kiều đã chọn hi sinh chữ tình.

    → Mối tình Kim – Kiều là mối tình đẹp nhưng mong manh, dễ vỡ

    → Vừa bộc lộ tâm trạng đau đớn, xót xa của Kiều, vừa khiến Vân xúc động mà nhận lời.

    c. Kiều nhắc đến tuổi trẻ và tình máu mủ và cái chết

    – Hình ảnh ẩn dụ “Ngày xuân’: Tuổi trẻ

    → Vân vẫn còn trẻ, còn cả tương lai phía trước

    – “Tình máu mủ”: Tình cảm ruột thịt của những người cùng huyết thống

    → Kiều thuyết phục em bằng tình cảm ruột thịt.

    – Thành ngữ “Thịt nát xương mòn” và “ Ngậm cười chín suối”: nói về cái chết đầy mãn nguyện của Kiều

    → Kiều viện đến cả cái chết để thể hiện sự cảm kích thật sự của mình khi Vân nhận lời

    ⇒ Lí lẽ của Kiều vừa thấu tình vừa đạt lí khiến Vân không thể không nhận lời

    ⇒ Kiều là một người con gái thông minh, sắc sảo cũng đầy tình cảm, cảm xúc.

    3. Nghệ thuật

    – Cách sử dụng từ ngữ tinh tế, tài tình

    – Sử dụng các thành ngữ dân gian và hình ảnh ẩn dụ

    – Sử dụng các thủ pháp nghệ thuật liệt kê, ẩn dụ.

    – Giọng điệu nhẹ nhàng, da diết, giàu cảm xúc.

    III. Kết bài

    – Khái quát nội dung và nghệ thuật của 12 câu thơ đầu

    – Bày tỏ suy nghĩ của mình: Đây là những câu thơ hay, xúc động nhưng cũng đầy lí trí.

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )