Môn Văn Lớp: 10 Cảm nhận của em về vẻ đẹp của người tráng sĩ trong bài thơ tỏ lòng của phạm ngũ lão mn giúp mình với ạ

Question

Môn Văn Lớp: 10 Giúp em bài này với ạ: Cảm nhận của em về vẻ đẹp của người tráng sĩ trong bài thơ tỏ lòng của phạm ngũ lão

mn giúp mình với ạ No copy trên mạng nha. Em xin cảm ơn mọi người ạ

in progress 0
Melanie 3 tháng 2022-01-30T06:01:57+00:00 2 Answers 0

Answers ( )

  1. Trong kho tàng văn học thời Trần, “Tỏ lòng” của Phạm Ngũ Lão là một bài thơ tiêu biểu thể hiện rõ tinh thần của thời đại nhà Trần với “Hào khí Đông A”. Được sáng tác theo khuynh hướng yêu nước – sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dân tộc, tác phẩm đã khắc họa thành công bức chân dung người anh hùng mang tầm vóc vũ trụ với vẻ đẹp lớn lao, kì vĩ toát lên từ lí tưởng đến tầm vóc, tư thế và hành động.

    Trước hết, bài thơ đã khắc họa tư thế hiên ngang và tầm vóc kì vĩ của người anh hùng Phạm Ngũ Lão và vẻ đẹp của thời đại Đông A:

    “Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu
    Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu”

    Dịch thơ:

    “Múa giáo non sông trải mấy thu
    Ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu”

    Với ý nghĩa “cầm ngang ngọn giáo”, từ ngữ “hoành sóc” đã tái hiện thành công hình ảnh người anh hùng trấn giữ đất nước trong tư thế hiên ngang, mang tầm vóc vũ trụ và hào khí dường như bao trùm đất trời. Trong bản dịch của tác phẩm “Chinh phụ ngâm” cũng miêu tả hình ảnh người chinh phu với hành động “Chỉ ngang ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Với hào khí đó, ắt hẳn người anh hùng đã trở thành biểu tượng cho vẻ đẹp của thời đại nói riêng và của dân tộc nói chung: “Ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu”. Câu thơ đã tái hiện hình ảnh cụ thể của quân đội nhà Trần, đồng thời khái quát sức mạnh của dân tộc. Câu thơ gây ấn tượng mạnh bởi nghệ thuật so sánh “Tam quân tì hổ” (Ba quân dũng mãnh như hổ báo) với khí thế “nuốt trôi trâu”, diễn đạt thành công tinh thần quyết chiến quyết thắng của “Hào khí Đông A”.

    Không chỉ khắc họa vẻ đẹp về tầm vóc, tư thế, hành động; bài thơ còn vẽ nên bức chân dung về ý chí của người anh hùng:

    “Công danh nam tử còn vương nợ
    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu”

    “Công danh” vốn là một phạm trù quen thuộc khi người anh hùng bày tỏ ý chí của mình mang màu sắc của tinh thần, tư tưởng Nho giáo với ý nghĩa: để lại sự nghiệp và để lại tiếng thơm. Xuyên suốt thời đại phong kiến, đây là quan niệm lí tưởng của các bậc anh hùng. Tác giả Nguyễn Công Trứ cũng đã từng dõng dạc tuyên bố rằng:

    “Đã mang tiếng ở trong trời đất
    Phải có danh gì với núi sông”

    Như vậy, chúng ta có thể thấy được lí tưởng mà tác giả hướng đến hoàn toàn mang ý nghĩa tích cực, thể hiện rõ ý chí quyết tâm đối với sự nghiệp cứu nước, cứu đời. Mặc dù là một vị tướng có nhiều công lao to lớn đối với công cuộc đánh đuổi ngoại xâm và bảo vệ đất nước nhưng Phạm Ngũ Lão vẫn cho rằng mình vẫn còn “vương nợ” công danh. Bởi vậy, ông mang trong mình nỗi thẹn khi “tai nghe chuyện Vũ hầu”. Đó là nỗi “thẹn” khi chưa có tài thao lược lớn như Gia Cát Lượng. Qua đó, chúng ta có thể thấy được nhân cách cao đẹp của tác giả.

    Như vậy, bài thơ “Tỏ lòng” đã thể hiện rõ bức chân dung về người anh hùng Phạm Ngũ Lão với tầm vóc, tư thế lớn lao mang tầm vóc vũ trụ cùng ý chí của tác giả. Đồng thời, bài thơ còn thể hiện rõ khí thế ba quân và hào khí cũng như sự lớn mạnh của thời đại nhà Trần.

    Tỏ lòng của Phạm Ngũ Lão là tiêu biểu cho hào khí Đông A thời Trần, tìm hiểu về tình yêu nước, ý thức trách nhiệm của người tráng sĩ trong bài thơ, bên cạnh bài Cảm nhận về bài thơ Tỏ lòng, các bạn có thể tìm đọc: Vẻ đẹp hình tượng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tỏ lòng, Cảm nhận về hào khí Đông A thời Trần qua bài Tỏ lòng, Phân tích bài Tỏ lòng để làm sáng tỏ nhận định: Tỏ lòng khắc hoạ vẻ đẹp con người có sức mạnh, có lí tưởng, Qua bài Thuật hoài, suy nghĩ về lí tưởng sống của thanh niên ngày nay.

  2. I. Mở bài

    – Giới thiệu tác giả Phạm Ngũ Lão và bài thơ Tỏ Lòng

    – Khái quát: Hình ảnh những người chiến sĩ và tâm trạng của tác giả được thể hiện đặc sắc

    II. Thân bài

    1. Hoàn cảnh sáng tác

     Bài thơ ra đời trong không khí quân và dân nhà Trần đang hừng hực, sục sôi khí thế chiến đấu và chiến thắng quân Mông – Nguyên xâm lược lần thứ hai. 

    2. Vẻ đẹp hào hùng của con người thời Trần

    * Vẻ đẹp của người chiến sĩ (câu thơ đàu tiên)

    Hoành sóc giang sơn kháp kỉ thu

    – Tư thế: “hoành sóc” – cầm ngang ngọn giáo

    -> Tư thế ấy như dồn nén sức mạnh để để bùng nổ.

    + Bản dịch thơ là “múa giáo”: cách dịch mang tính hình ảnh, hoa mĩ, có gì đó pha chút phô trương, biểu diễn hoặc nếu không dễ làm ta liên tưởng đến một trình độ thuần thục của nghề cung kiếm trong thao tác thực hành -> Không toát lên dược khí thế của người trngs sĩ.

    – Tầm vóc

    + Không gian: “Giang sơn” – đất nước.

    -> Không gian vũ trụ rộng lớn, kì vĩ

    -> Con người sánh ngang với trời đất, có trách nhiệm to lớn đối với thế giới.

    + Thời gian: “kháp kỉ thu”: thời gian dài

    → Tầm vóc lớn lao, lấn át cả thời gian của người anh hùng.

    => Tư thế của nhân vật hiện lên thật hiên ngang lẫm liệt

    b. Vẻ đẹp sức mạnh của quân đội nhà Trần. (câu thơ thứ hai)

    Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

    Thủ pháp so sánh và phóng đại 

    + “Tam quân”: ba thứ quân -> tiền lực quân đội mạnh mẽ, vững vàng

    – Khí thế đội quân: Hình ảnh so sánh tăng tiến với hai hình ảnh

    + “Tam quân” được so sánh với “tì hổ”:  Hổ báo là loài mãnh thú, chúa rừng là nỗi khiếp đảm của loài vật khác thì tiềm lực sức mạnh dũng mãnh của quân đội nhà Trần là nỗi khiếp đảm của quân thù

    + hình ảnh “khí thôn ngưu” có hai cách hiểu, cả hai cách đều đúng:

    (1) Khí thế ba quân hùng mạnh nuốt trôi trâu

    (2) Khí thế hào hùng ngút trời làm mờ sao Ngưu

    → Khí thế dũng mãnh, có thể sánh ngang với tất cả

    3. Vẻ đẹp chí làm trai qua tâm tình tác giả

    a. Món nợ công danh (câu thứ ba)

    Nam nhi vị liễu công danh trái

    Theo quan niệm Nho giáo phong kiến, làm trai trên đời phải có công danh sự nghiệp, cũng là để chứng tỏ cái chí của người quân tử, muốn được góp sức với đời góp công với nước. Có như vậy mới thỏa nguyện chí làm trai và làm vẻ vang cho cha mẹ, gia tộc. 

    – Phạm Ngũ Lão đã gắn chí nam nhi với lý tưởng yêu nước thiêng liêng, với sự nghiệp cứu nước gian khổ mà cực kì vẻ vang.

    b. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão. (câu cuối)

    – “Thẹn” là trạng thái xấu hổ

    – “Thuyết Vũ Hầu”: Điển tích Trung Quốc nói về một con người tài năng lf Gia Cát Lượng đã giúp Lưu Bị chiến thắng Tào Tháo

    – Phạm Ngũ Lão cũng là một trang nam nhi hết lòng vì nước, cả công lao và danh tiếng đều vang xa. Vậy mà ông vẫn thẹn vì chưa báo đáp được hết ơn chiêu mộ của Trần Quốc Tuấn, chưa tận tâm tận lực trả hết món nợ công danh.

     Nỗi thẹn ấy không làm cho con người nhỏ bé đi mà nó tôn cao nhân cách con người. Nỗi thẹn ấy đốt lên trong lòng người ngọn lửa của khát vọng vươn tới cái cao cả lớn lao. Nói thẹn là là cách nói khiêm nhường, một cách thể hiện khát vọng, hoài bão mãnh liệt trong lòng.

    → Thể hiện ý thức muốn cống hiến nhiều hơn nữa cho dân tộc. Đồng thời đánh thức ý thức làm người và chí làm trai cho nam nhi đời Trần.

    ⇒ Trân trọng ngợi ca nhân cách cao đẹp của người anh hùng Phạm Ngũ Lão

    4. Nghệ thuật

    – Bài thơ Đường luật với thể thơ Thất ngôn tứ tuyệt ngắn gọn

    – Ngôn ngữ hàm súc, đạt đến độ súc tích cao

    III. Kết bài

    – Khái quát vấn đề

Leave an answer

20:2+1-4x3-12:4 = ? ( )